Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Làm Gì Có Phép Lạ!



Trần Tiên Long
LTS: Có một căn bệnh lưu niên và nan y mà những tín đồ Thiên Chúa Giáo luôn mắc phải là cái gì phát xuất từ nhà thờ cũng đều được xem là thánh thiện, ngoài ra thì là dị đoan, dị giáo, vô thần, tội lỗi,... Khi một người lương tin điều gì thì người Ki-tô giáo đều cho là tin nhảm nhí. Còn những gì Ki-tô giáo tin thì là mầu nhiệm, là niềm tin không thể chạm đến. Cho đến từ ngữ cũng bị căn bệnh đó hành hạ. Chữ "phép" khi ở bên miệng người lương, "thầy cúng làm phép," thì tín hữu Ki-tô hiểu là "phù phép", mê tín, bậy bạ, và chế nhạo với những ý nghĩa rất tiêu cực. Nhưng cũng "phép" đó xài cho các việc hành đạo bên Ki-tô giáo nói chung, và Ca-tô Rô-Ma giáo nói riêng, thì các tín hữu dành cho nó một lòng kính cẩn, thiêng liêng: phép rửa tội, phép thêm sức, phép mình thánh, phép giải tội, phép truyền chức, phép hôn phối, phép xức dầu,...và phép "lạ". Cứ xem các tác phẩm văn chương Việt Nam từ bao lâu nay, ít nhất là một đời người, nếu có những màn kịch lên án những "phép" dị đoan mê tín, thì chắc chắn màn đó phải nhắm vào những thầy cúng bên lương. Chưa bao giờ có một vở kịch lột trần những việc xấu xa, giả dối, những "phép lạ" làm bà Maria chảy dầu, chảy nước mắt, để thu hút "khán giả" của các ông linh mục Việt Nam. (Chớ ai cho rằng đó là vì các con quạ áo đen này không có làm điều gì xấu, chúng tôi sẽ dễ dàng đưa ra hàng loạt danh sách các tài liệu chứng minh.)
Có điều, chữ "phép lạ" trong Ki-tô giáo đã trở thành một nhu cầu để cho tôn giáo này sống còn hay sống khỏe ở các quốc gia còn chậm tiến, và ở các cộng đồng chậm tiến trên thế giới. Tác giả Trần Tiên Long hiểu về "phép lạ" như sau. Xin mời bạn đọc thử. (SH)
Phép lạ trong thánh kinh:
Chúa Giêsu biến 5 ổ banh mì và 3 con cá cho mấy ngàn người ăn.
Chú thích: Tiếc rằng Chúa Giêsu chỉ làm được có 1 lần (nếu tin là có thật).
Giá mà Ngài biết thương dân theo đạo của Ngài, như Haiiti chẳng hạn,
Ngài chỉ cần làm thêm vài ổ bánh mì và vài 3 con cá nữa
nhất là sau lần động đất kinh hoàng gần đây (năm 2010),
thì họ đâu đến nỗi phải cạp đất sét cho qua ngày!


Trong tất cả các phương trình khoa học, tuyệt đối không có yếu tố siêu nhiên để giải thích mọi hiện tượng. Tất cả mọi sự xảy ra trong trời đất đều có nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, Einstein, một nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, đã phát biểu rằng:
“Nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo một cách thức khác.”
Mặc dù vậy, những nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo (TCG) vẫn cứ khăng khăng rằng có phép lạ vì họ đang dựa trên những điều mập mờ, không rõ rệt. Nếu mang một điều rõ rệt ra để thách thức họ thì họ tuyệt đối không có câu trả lời. Chẳng hạn, chúng ta hãy hỏi họ rằng, quí vị có bao giờ thấy ai đã bị cụt chân tay mà có thể mọc lại chân tay khác chưa, cho dù có cả hơn một tỉ tín đồ TCG thiết tha cầu khẩn cùng Thiên Chúa của họ? Còn con cắc kè, tại sao chẳng cần ai cầu xin mà chân cẳng nó vẫn mọc lại như thường?
Thực ra, những gì còn có xác suất để xảy ra thì không thể gọi là phép lạ.
Thống kê cho biết có tới 20% những người bị bệnh ung thư được chữa khỏi. Trong số 20% này, chắc chắn có nhiều người vô thần chẳng hề cầu xin chữa bệnh nơi bất cứ vị thần nào. Còn 80% những người chết vì bệnh ung thư thì sao? Chắc chắn có rất nhiều người trong số họ đã từng thành tâm cầu khẩn nơi Thiên Chúa của họ. Vậy tại sao họ vẫn chết?
Kết luận:
Phép lạ chỉ có thể xảy ra ở những điều mập mờ, không rõ rệt, những điều còn có một xác suất có thể xảy ra, cho dù là một xác suất rất thấp, và phép lạ chỉ có giá trị đối với những người chưa tìm hiểu vấn đề cho rõ ràng. Còn nếu chúng ta dùng đầu óc suy luận của khoa học để nghiên cứu tường tận thì sẽ không bao giờ thấy phép lạ ở đâu hết.
Trân trọng,

Trần Tiên Long

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Giáp Văn Dương - Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

Theo blog Giáp Văn Dương
Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.
Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.
“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.
Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

________________________
Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.
Fukuzawa là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng "một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập".

Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ.

Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xoá bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).

Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.

Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước.

Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.

Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại.

Văn hóa Đắc Lộ

From: Tran Quang Dieu [mailto:tranquangdieu@hotmail.com] 
Sent: Wednesday, March 28, 2012 5:04 AM
Subject: Văn hóa Đắc Lộ: Gởi cho Thu Thuy Le!

Xin gởi vài links như sau cho ThuThuy Le:


http://www.giaophanvinhlong.net/page-3-BON-CU-KINH-XUA.html


http://giaophandanang.org/articles/view/chu-quoc-ngu-da-duoc-gioi-cong-giao-khai-sinh-nam-1651

TQD

---------- Forwarded message ----------
From: ThuThuy Le 
Date: 2012/3/27
Subject: Re: [ChinhNghiaViet] Văn hóa Đắc Lộ

Những "Phép Giảng Tám Ngày" mà Giáo sĩ Đắc Lộ ăn nói kiểu này, hiện nay vẫn được phổ biến trên những trang mạng của đạo "Công giáo".

Xin netter TQD cho biết hay dẫn chứng ở trang mạng Công Giáo nào ?

TT

----------On Tue, Mar 27, 2012 at 10:31 PM,
Tran Quang Dieu wrote:

Văn hóa Đắc Lộ 

Ngày thứ 4 trong "Phép Giảng Tám Ngày":

"Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong

Sự đàng sau này bởi nước India mà ra, thì ta nói trước. Ta suy bởi đâu mà ra, thì một chốc ta biết là đạo gian. Ay vậy mà từ tạo thiên lập địa qua ba nghìn năm dồ, mà từ lộn lạo tiếng nói một nghìn dư năm, bên Thiên trúc quốc [4] thì có vua, tên là Tinh Phạn, mà đẻ con, dạ thì sáng, song kiêu ngạo lắm. đã lấy con vua nào gần đấy gả cho, mà sinh đẻ được một con gái đoạn, thì khiến đi ở trên rừng một mình, dẫu vợ cãi mà chẳng cho, vì mình đã quen làm việc dối, như pháp môn phù thuỷ, và muốn cho người ta hãi mà khen nó, và lòng láo thong dong nói khó cùng ma quỷ. Mà trong nhiều quỷ dạy nó, thì có hai quỷ, tên là Alala và Calala, quen làm thầy nó liên, mà nó thì ngồi giữa hai thầy quỷ ấy, mà dạy nó dầu hết chớ tin gì có Chúa trời, cùng đặt tên nó là Thích Ca. Đến khi Thích Ca ra dạy kẻ khác sự đạo gian ấy, vì trái lẽ lắm, thì người ta bỏ mà đi hết. Nó và quỷ làm thầy nó, thấy vậy, thì lấy đàng khác mà mới dạy những truyện dối trá dã dầy, vậy thì mà cầm đầy tớ lại, cũng có dạy nó sự luân hồi, dối trá đầy tớ vậy. Lại khiến nó thờ bụt, mà lấy mình Thích Ca làm cội rễ bụt ấy, như thể lấy mình là kẻ làm nên trời đất, mà trị đấy. Song le nó lấy tên trời đất vậy, mà dối trá thế gian, nó thì lấy là mình người vậy, mà lại các bụt thì cũng lấy là tứ chi cốt tiết [5], dầu đàn ông đàn bà, cũng là vật âm mình [6], lấy làm bụt vậy. Mà lời ấy thì nói cùng kẻ học đã lâu mà thôi, song le điều ấy chẳng cho nói ra cùng thế gian, mà chúng nó những nói sự truyện dối trá bày đặt vậy, và lấy phép giả bởi quỷ mà làm cho thế gian nên dại vậy, cho nên thế gian thờ bụt. Vì chưng thì nói hứa rằng, ai thờ bụt, dẫu là kẻ hèn mọn ở đời này, đến đời sau khi luân hồi thì dễ ra được làm con vua chúa vậy. Song le đầy tớ nào yêu thì càng dối nó, mà làm cho phạm chốn càng sâu, cho đến chẳng tin có Đức Chúa trời vậy, lại khiến không làm cội rễ đầu mọi sự, mà khi thì chết lại về không, lấy không làm bia mọi sự vậy.

Vì vậy giáo bụt thì có hai đàng: một là gọi giáo ngoài, mà dạy người ta thờ bụt, dối vậy, hay bày đặt những truyện giả kể chẳng xiết, xiêu dối thế gian mà lòng về thờ bụt, cho nên phạm tội vô hồi vô số. Lại có giáo khác, gọi là đạo trong, càng dối nữa rằng chẳng có Chúa nào hóa ra thế giới này, mà làm vậy thì mở đàng cho người ta phạm mọi tội dầu lòng. Cho nên ai phải đạo bụt trong độc ấy, thì quỷ quái hơn kẻ theo đạo ngoài vậy. Vì vậy ông Khổng Tử, là kẻ Đại minh lấy làm thầy nhất, trong sách thì gọi đạo bụt những đạo rợ mọi vậy.

Vì hằng có hỏi sự thờ bụt này là thói rợ mọi, mà Đại minh có chịu thói ấy làm sao, mà Thiên trúc quốc là đất chẳng có lễ bằng Đại minh, song thói ấy ra bởi nước Thiên trúc quốc thể nào? Ta thưa rằng, thật Đại minh có lễ hơn Thiên trúc quốc đã xa, mà luân phép họ cùng sự linh hồn, và coi sự xác nữa. Vì chưng có luân phép họ thì Thiên trúc quốc chẳng hay mấy. Lại coi phép về xác vốn thói người nước ấy thì quen di trần liên, hay là mặc quấy quá vậy. Sự thói ăn uống thì vô lễ, vì chẳng có dùng đĩa bát nào, những dùng là chuối; mà cũng chẳng hay dùng đũa, một chan cơm với canh, mà đẩy tay ăn bốc vậy. Song le vì có lời đời xưa trong sách ông Khổng bảo rằng: bên Tây thì có ông thánh, mà phải đi tìm đấy, lại có vua Đại minh đời xưa, tên là Hán Minh đế, coi thấy điều ấy trong sách ông Khổng, mà lại có kẻ rằng vua ấy đã chịu lời Đức Chúa trời phán rằng đạo thật thì phải kiếm bởi nước bên Đại Tây dương. Chốc ây vua Hán Minh thì chọn trong đại thần một người nhất đi sứ bên nước ấy. Mà đến khi đại thần ấy đã đi lâu tháng và đàng xa, thì mới đến Thiên trúc quốc, bởi nước Đại minh cũng là bên Tây, mà cho đến bên Đại Tây dương chưa được nửa phần đàng; song le vì đã chịu nhiều sự khốn khó dọc đàng ấy mà nhọc, thì toan chẳng đi xa nữa, lại tìm ở nước Thiên trúc ấy có dạo nào chăng, mà đem về cho vua Đại minh. Khi ấy bên Thiên trúc quốc có cho nó đạo Thích Ca, những dối trá vậy. Nó thì mừng mà lấy đạo ấy đem về cho vua nó, cùng nói dối vua rằng: “Bởi Đại Tây dương lấy đạo ấy mà về.” Vua thì tin lời sứ mà chẳng có xét gì, những chịu lấy đạo ấy, mà tức thì có thờ bụt và làm chùa triền thờ vậy. chốc ấy dân dại dột, thì theo vua mà chịu lấy đạo gian, thờ bụt cùng vua. Song le kẻ hay chữ nghĩa vốn chê đạo ấy; cũng có kẻ hay chữ mà thờ bụt bề ngoài, phỉnh đi vua vậy, dù trong lòng thì chê đạo bụt, mà gọi là đạo rợ mọi, bắt chước ông Khổng là thầy, và cũng gọi làm vậy. Mà kẻ thờ bụt thì dại chừng ấy, cho đến lấy Thích Ca làm nên trời đất vậy, dẫu trong sách Thích Ca đã thấy tỏ tường, khi chưa có Thích Ca đã có trời đất trước, đã lâu.

Cũng có kẻ thờ bụt, mà bày đặt đứa nào dối, tên là Bàn Cổ, khiến đã làm nên trời đất, song le chẳng có thờ Bàn Cổ ấy sốt, cùng chẳng có làm chùa nào cho nó, một làm chùa thờ Thích Ca, là đứa gian vậy."


Cũng trong ngày thứ 4, Giáo sĩ Đắc Lộ giở thói côn đồ:


"Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta

Bởi tam giáo này, như bởi nguồn dục, có ra nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thể có chém cây nào đúc (đục) cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.

Song le sự luân hồi Thích Ca bầy đặt phần đạo ngoài, thì là sự cười chốc. Vì chưng ví bằng ta đã ở đời trước, mà sao chẳng có một ai còn nhớ sự đời trước ấy? Vì vậy thật là Thích Ca bày đặt dối trá vậy; mà lại trong sách Thích Ca nói tỏ tường rằng trong hồn cây cối cùng hồn muông chim, cho đến hồn người ta, thì chẳng có khác. Vậy thì nó làm linh hồn người ta hay chết, cũng bằng giác hồn hay là sinh hồn, mà làm vậy thì điều nào nó đã nói trước, đến sau thì nó lại chối. Vì chưng ví bằng nó ngờ linh hồn người ta hay chết, cũng như hồn muông chim hay là hồn cây cối, mà sao lại rằng có luân hồi cho người ta lại sinh ở xác khác? Ví bằng linh hồn người ta, khi xác chết, cũng chết với, lại sinh lại mà cho xác khác sống làm sao được? Mà lại luân hồi ấy chẳng ưa lẽ ở trong lòng các người ta, cùng huỷ báng lời thiên hạ, dầu Đại minh, dầu Annam, quen nói liên làm vậy: “Sinh kí dã, tử quý dã”, sống thì gửi, chết thì về. Ví bằng có luân hồi, mà chẳng phải dối, thì linh hồn một ở gửi [9] liên vậy: bây giờ thì ở gửi trong xác này, đến sau một giây nữa thì lại ở gửi trong xác khác vậy.

Mà điều Thích Ca dạy nơi trung giáo rằng linh hồn người ta hay chết, thì càng lỗi. Mà điều ấy Thích Ca thì huỷ báng lời mình, như ta nói trước. Vì chưng giáo dục này chẳng những mở cửa cho mọi tội, mà lại chẳng ưa lẽ linh hồn ta, vì có muốn khi khỏi đời này để dấu mình lại cho người ta nhớ, như ta xem nơi chôn xác mình, mà ước làm cho trọng, và việc nào đã làm nên thì muốn để truyền cho đời sau. Sau nữa hễ là phép [10] trọng linh hồn người chẳng có dùng xác mà làm việc, như thể phép trí hay là phép có chủ ý mình, vì chưng linh hồn ta có dùng hai phép ấy, dẫu xác đã già cả mà nhọc: vì vậy hai phép nhất ấy thật chẳng có dùng xác, mà lại khi khỏi xác thì càng nghỉ[11] làm việc ấy."


Những "Phép Giảng Tám Ngày" mà Giáo sĩ Đắc Lộ ăn nói kiểu này, hiện nay vẫn được phổ biến trên những trang mạng của đạo "Công giáo". 

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình đã phạm tội


Nguyên Chủ tịch Vinashin phải bồi thường dân sự trên 540 tỷ đồng
(Dân trí) - Kết thúc phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án Vinashin, HĐXX Tòa kinh tế - TAND TP Hải Phòng đã tuyên phạt 20 năm tù dành cho Phạm Thanh Bình. Cùng đó, nguyên Chủ tịch Vinashin còn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự trên 540 tỷ đồng.
Nguyên Chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình đã phạm vào tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Khoản 3 Điều 165 Bộ luật hình sự, với vai trò tổ chức thực hiện tội phạm và phải chịu trách nhiệm chính cùng với các đồng phạm về hậu quả thiệt hại đã gây ra. 

Ngoài mức án hình sự kịch khung, nguyên Chủ tịch Vinashin còn phải bồi thường dân sự số tiền trên 540 tỷ đồng.

Quá trình điều tra, bị can Bình đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong vụ án. Chiều ngày 30/3, HĐXX Tòa kinh tế - TAND TP Hải Phòng đã tuyên phạt 20 năm tù giam đối với Phạm Thanh Bình, về dân sự - HĐXX cũng đã tuyên Phạm Thanh Bình cùng các bị cáo liên đới phải bồi hoàn các khoản tiền liên quan đến sai phạm trong từng vụ việc.

Cụ thể, các bị cáo Phạm Thanh Bình, Trần Văn Liêm phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH MTV Vận tải Viễn Dương, mỗi bị cáo gần 493 tỷ đồng. Liên đới đến bồi thường cho Công ty CP CNTT Hoàng Anh, Phạm Thanh Bình và Nguyễn Văn Tuyên cùng nhau chịu 14 tỷ đồng dành cho từng cá nhân.

Ngoài ra, Phạm Thanh Bình và Đỗ Đình Côn còn phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH MTV CNTT Cái Lân và Công ty nhiệt điện Cái Lân, mỗi bị cáo 33 tỷ đồng.

Theo cáo trạng của VKS, Phạm Thanh Bình trong thời gian giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Vinashin từ năm 1998 đến 2009, đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây thiệt hại tổng số tiền là852.663.523.369 đồng (Tám trăm năm hai tỷ, sáu trăm sáu ba triệu, năm trăm hai ba nghìn, ba trăm sáu chín đồng) trong quá trình thực hiện đầu tư 3 dự án dưới đây:

Dự án đầu tư mua tàu cao tốc Hoa Sen: Từ đầu năm 2007, Phạm Thanh Bình đã chỉ đạo các bị can Trần Văn Liêm, Trịnh Thị Hậu, Hoàng Gia Hiệp, Hồ Ngọc Tùng và Giang Kim Đạt thực hiện không đúng sự chỉ đạo về chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ là đóng mới tàu biển chở khách Bắc - Nam, phê duyệt Dự án đầu tư mua tàu cao tốc Hoa Sen trước khi lập và thẩm định dự án, không thực hiện chào hàng cạnh tranh khi mua tàu, cho vay và thực hiện các thủ tục bảo lãnh để mua tàu sai quy định của Nhà nước, đã gây thiệt hại số tiền 469.564.547.716 đồng (Bốn trăm sáu chín tỷ, năm trăm sáu tư triệu, năm trăm bố bảy nghìn, bảy trăm mười sáu đồng).
Dự án mua tàu cao tốc Hoa Sen đã tiêu tốn của nhà nước hàng trăm tỷ đồng. (Ảnh: Internet)
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng: Trong năm 2006, 2007 Phạm Thanh Bình đã không lập báo cáo đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tự dự án nhóm A, quyết định phê duyệt dự án không có trong quy hoạch phát triển nghành điện, không lập hồ sơ thiết kế cơ sở để thực hiện thủ tục thẩm định, không tổ chức đấu thầu mà chỉ định đơn vị tư vấn lập dự án là Công ty Cổ phần chế tạp lắp máy Cửu Long không có giấy phép hoạt động điện lực, cho phép sử dụng vốn vay để thực hiện dự án sau mục đích. Bị can Phạm Thanh Bình với vai trò chính đã cùng các bị can Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Tuấn Dương, Đỗ Đình Côn gây thiệt hại số tiền 316.523.439.425 đồng (Ba trăm mười sáu tỷ, năm trăm hai ba triệu, bốn trăm ba chín nghìn, bốn trăm hai lăm đồng).

Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Diezel Cái Lân: Từ năm 2001 đến năm 2005, Phạm Thanh Bình đã chỉ đạo Hồ Ngọc Tùng và Tô Nghiêm thực hiện các hành vi: Điều chỉnh tổng mức đầu tư trái quy định của Nhà nước, thông đồng với nhà thầu là Công ty Jasobsen để nhập dây chuyền máy móc, thiết bị đã qua sử dụng lắp đặt tại Trung Quốc không đúng yêu cầu thông số kỹ thuật theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật của dự án và cam kết trong hợp đồng giao thầu, thanh toán hết số tiền: 3.595.000 USD (tương đương 10% giá trị còn lại của hợp đồng giao thầu) cho Công ty Jacobsen khi dự án chưa hoàn thành, chưa chạy thử tải. Bị can Phạm Thanh Bình với vai trò chính đã cùng các bị can Tô Nghiêm và Hồ Ngọc Tùng gây thiệt hai tổng số tiền 66.575.536.228 đồng (Sáu sáu tỷ, năm năm bảy lăm triệu, năm trăm ba sáu nghìn, hai trăm hai tám đồng).
 
Quốc Đô

Ai vui, ai buồn trong ngày 30 tháng 4?

Tôi không biết ông Diệm, chưa bao giờ gặp cụ Hồ, chưa bao giờ gặp ông Nguyễn Cao Kỳ một lần ở ngoài đời và cũng chẳng biết hồi ấy thực sự họ nghĩ gì. Tôi chỉ biết nỗi đau mất mát từ chính gia đình tôi, tôi chỉ biết những giọt nước mắt của mẹ tôi, của chị dâu tôi và những gì tôi đã từng chịu đựng. Tôi sinh sau đẻ muộn, khi các anh chị đã trưởng thành thì tôi mới chập chững biết đi và đây là câu chuyện thật của gia đình tôi! Tôi không phải là một nhà văn, cũng không phải là một nhà báo, tôi chỉ là một công dân bình thường và tôi viết về ngày 30 tháng 4 chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi, dưới cái nhìn của một thế hệ sinh ra lớn lên ở cuối cuộc chiến.



Ngày 30 tháng tư có triệu người vui, nhưng cũng có triệu người buồn, đó là lời của cố TT Võ Văn Kiệt. Nhưng ông đã không nói rõ rằng ai trong số triệu người vui và ai trong số triệu người buồn. Phải chăng triệu người vui là những người thắng trận và triệu người buồn là những người bên kia?

Không! Tôi xin khẳng định trong triệu người buồn ấy cũng có rất nhiều những người bên thắng trận. Đó là những người mẹ, người vợ, người con, người em,..., những người đã chờ đợi mỏi mòn ngày trở về của những người chồng, người con trai hoặc người bố, hay như tôi chờ đợi người anh trai trở về.

Năm 1975 khi chiếc xe U oát chạy trên đường đê vào một buổi chiều tối khi tôi đang ăn cơm thì một vài đứa trong xóm gọi tôi cùng chạy lên xem. Nghe lời thông báo thực tình tôi cũng chẳng hiểu gì, chỉ còn nhớ mỗi câu „miền nam hoàn toàn giải phóng“, ngoài ra chúng tôi chỉ chạy theo xe vì thấy lạ.

1977, hai năm qua đi kể từ lúc chấm dứt chiến tranh, ngày nào mẹ tôi cũng khóc. Trong tiềm thức của một đứa trẻ như tôi chỉ còn nhớ mẹ tôi khóc rất nhiều và bảo tôi rằng, nếu anh tôi còn sống trở về, đời tôi sẽ không bao giờ phải khổ. Mẹ tôi thường kể, anh thương tôi lắm và hàng xóm láng giềng ai cũng nói như vậv và họ còn bảo anh tôi học giỏi nhất vùng thời ấy. Mẹ tôi bảo anh tôi thi đỗ mấy trường liền và sau đó vào học đại học ngoại thương, rồi học được 2 năm, tôi không rõ năm nào thì khi ấy máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, anh cùng một số bạn bè đã viết thư xin vào quân đội để quyết trả thù. Vì anh có trình độ nên được chọn vào học để huấn luyện tân binh, điều đó đồng nghĩa với việc anh không được ra trận, nên nói chuyện với mọi người mỗi lần về phép anh rất thất vọng và ấm ức. Cho tới cuối năm 1972 khi ấy bom mỹ đánh phá ác liệt ở miền bắc, anh lại viết đơn tình nguyện ra chiến trường, mặc dù không nằm trong diện được đi nhưng vì quyết tâm của anh và đồng đội quá cao, cấp trên đã đồng ý và anh trở thành lính trinh sát. Gần 2 năm sau anh ngã xuống ở Rồng Giềng- Kiên Giang và được những người dân chôn cất tử tế, chỉ là không dám ghi tên họ lên mộ bia. Nghe lời bà con ở vùng đó kể lại thì khi họ thấy xác anh tôi cùng đồng đội, họ thấy chỉ còn gần như mỗi xương, còn thịt đã bị cá chim ăn gần như sạch hết. Ngay những chiếc lọ thủy tinh đựng tờ giấy ghi tên họ ở túi áo ngực cũng bị trôi ra gần đó, cho nên không xác định ai là ai.

Năm 1977 khi báo tử anh tôi, khi ấy tôi mới lên 8 và tôi thực sự lúc ấy cũng không hiểu vì sao mọi người khóc. Chị Thái, người vợ sắp cưới của anh tôi, đáng lý sẽ là chị dâu tôi cũng có mặt hôm ấy ở nhà tôi. Sau thời gian ấy tôi thấy mẹ tôi hay nói với chị "Con đi lấy chồng đi", nhưng chị kiên quyết từ chối. Chị bảo, chị đã đi xem bói và người ta bảo anh tôi còn sống và vẫn tin rằng họ báo tử nhầm. Cũng thời gian đó, một chuyện kỳ diệu đã sảy ra ở nhà cách tôi vài nóc nhà. Đó là một anh đã báo tử năm 1977 đột nhiên trở về mang theo niềm hy vọng cho rất nhiều gia đình, trong đó có gia đình tôi. Có thể nói người hạnh phúc nhất hôm ấy là chị vợ mới cưới của anh ấy, tôi nhớ mang máng tên là chị Quí. Thời gian ấy chị Thái gần như ngày nào cũng đến thăm mẹ con tôi, chị thường bảo, chị có đi xem bói và người ta bảo anh tôi sẽ trở về và chúng tôi lại tiếp tục hy vọng. Những năm tháng ấy mẹ tôi ốm đau triền miên và thường xuyên nằm viện, gần như thập tử nhất sinh. Chỉ có tôi, một đứa trẻ ở trong căn nhà rộng rãi và hoang vắng. Thỉnh thoảng chị Thái, hoặc bà ngoại nuôi tôi đến nấu cơm, giặt rũ cho tôi, còn lại tôi phải tự làm hết. Tự đến giờ dậy đi học, tự giặt quần áo, tự nấu ăn (gạo luộc, rau luộc). Một thời gian sau, tôi cũng không nhớ năm nào, khi mẹ tôi từ viện trở về, chị Thái đến quì lạy ở giường mẹ tôi và bảo, không có duyên làm dâu nhà tôi, nên ở nhà có giới thiệu (gần như bắt buộc) cho một người để sau này khỏi đơn độc(Hình như lúc ấy chị đã xung quanh 30 thì phải). Mẹ tôi khóc hết nước mắt và ôm chị vào lòng, hồi ấy tôi cũng chẳng hiểu gì. Mấy năm sau đó tôi đi học qua nhà chị lại chạy vào chơi và vẫn nghĩ chị là chị dâu của tôi chứ không phải của người khác. Khi tôi lớn lên, tôi mới hiểu được hết những điều của người lớn khi ấy, mới hiểu được nỗi đau của mẹ tôi, của chị Thái. Những năm sau đó tôi ngẫm lại những điều mẹ tôi nói, ngẫm lại chị Thái, người đáng lý ra là chị dâu hiền của tôi, tôi hận lắm. Tôi hận cuộc đời đã sắp sếp cho gia đình tôi một bi kịch tang thương như vậy, tôi hận những ai đã giết chết anh tôi.

Nhưng theo thời gian, đặc biệt từ ngày tôi biết chú Hùng qua mạng kbchn, hình như rất nhiều thù hận đã nguôi ngoai trong tôi.Tôi cũng hiểu được rằng, thù hận không phải chỉ có một mình gia đình tôi, đau thương cũng chẳng phải riêng mẹ con tôi mà là của tất cả dân tộc Việt nam. Dù là chiến thắng hay chiến bại cũng đều có chung một nỗi đau và muốn xóa nỗi đau ấy không phải riêng tôi, riêng chú Hùng, riêng các bạn trong kbchn này . Mà phải toàn dân tộc Việt nam, tất cả mọi người hãy cùng nắm tay nhau, quên đi quá khứ để hát bài „Nối vòng tay lớn“ và chúng ta cùng tự hào nói với thế giới rằng „Chúng ta là người Việt nam!“.


Sắp đến ngày 30 tháng 4, ngày lịch sử của dân tộc, ngày mà có người vui, có người buồn, ngày của chấm dứt tiếng súng, tiếng bom đạn trên quê hương Việt nam. Chắc hẳn ở đâu đó vẫn còn những người ấm ức và tức tưởi với đau thương mất mát, hoặc những người vui với những chiến thắng bằng cờ hoa và khẩu hiệu, hết thảy rồi cũng trở thành quá khứ! Ngày 30 tháng 4 năm nay sẽ là quá khứ của năm sau và khi chúng ta, những người còn sống hôm nay, đi về bên kia thế giới, thì chúng ta cũng chỉ là quá khứ của thế hệ sau mà thôi. Có mấy ai trên đời sẽ nhắc tới, rằng có ông A chiến thắng ăn mừng, ông B khóc vì con trai không trở lại hay bà C khóc vì mất chồng? Có chăng thì đó là con, cháu của chúng ta là cùng, chứ thực ra những thế hệ sau đó chưa chắc gì đã còn nhớ tới chúng ta. Trong cuốn gia phả cũng chỉ ghi là ông Nguyễn Văn A B C gì đó sinh năm này, mất năm kia, chứ đâu có ai ghi là ngày 30 tháng 4 là ngày buồn hay ngày vui của ông ấy đâu?

„30 tháng 4 có triệu người vui, có triệu người buồn“ cũng là thế đấy!

Bốn chữ I trong nền kinh tế Việt NamChủ nhật

Bốn chữ I trong nền kinh tế Việt NamTiếng Anh và tiếng Việt thú vị, I là tôi và tôi cũng là “ai” (I). Nền kinh tế thị trường có ba chữ I khác: (I)nstitutions – thể chế, (I)ncentives – cơ chế khuyến khích, và (I)nformation - Thông tin.

Ngân hàng Thế giới : VN cần bước sang một giai đoạn mới của sự phát triển hiệu quả và công bằng hơn.




Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì có lẽ cần cả bốn chữ I để hội nhập.

Ngân hàng Thế giới vừa công bố Báo cáo Phát triển Việt Nam (VDR 2012) với chủ đề “Kinh tế thị trường cho quốc gia thu nhập trung bình”.

Báo cáo đánh giá, sự chuyển đổi của Việt Nam – từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và từ một đất nước rất nghèo trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp (trên 1000$/người/năm) trong vòng chưa đến 20 năm – đã trở thành một phần trong các sách giáo khoa về phát triển.

Nhưng một sự chuyển đổi khác của Việt Nam - để trở thành một nền kinh tế công nghiệp, hiện đại vào năm 2020 - hầu như mới chỉ bắt đầu.

Để đạt được mục tiêu thu nhập 3000 USD/người/năm vào năm 2020, Việt Nam cần phải bình ổn kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn thế giới, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng và tăng cường các thể chế kinh tế thị trường của mình, khuyến cáo cho biết.

Để cho người đọc dễ hiểu, các nhà kinh tế thường dùng ba chữ I trong tiếng Anh để định nghĩa kinh tế thị trường: (I)nstitutions – thể chế, (I)ncentives – cơ chế khuyến khích, và (I)nformation - Thông tin.

VDR 2012 đã chỉ ra, cả ba chữ I của VN đều có vấn đề bất cập: thể chế yếu (weak Institutions), cơ chế khuyến khích bị bóp méo (distorted Incentives) và thiếu thông tin (inadequate Information).

Trong báo cáo, Ngân hàng Thế giới cũng khuyên Việt Nam nên sử dụng sức mạnh của thị trường và vai trò thúc đẩy của Nhà nước để bước sang một giai đoạn mới của phát triển hiệu quả và công bằng hơn. Những bất cập của ba chữ I cần được phân tích thấu đáo và giải quyết triệt để.

Ba chữ I của nền kinh tế thị trường

Thể chế ở tầm quốc gia được tạo ra nhằm điều hòa và kiểm soát một đất nước. Thể chế hiệu quả được thể hiện qua luật pháp và dân chủ. Nếu luật pháp yếu và xã hội thiếu dân chủ sẽ dẫn đến thể chế bị lợi dụng và suy yếu.

Nhiều quốc gia có thể chế yếu như Indonesia, Philippines, Thái lan, và nhiều nước khác, tuy vẫn phát triển, có thu nhập ở mức trung bình, nhưng không vượt qua cái bẫy này.

Động lực cho sự phát triển của quốc gia dựa rất nhiều vào cơ chế khuyến khích cho người dân lao động và sáng tạo.

Cả làng đói thì sẽ dễ bảo nhau ra đường kiếm ăn. Nhưng khi có của ăn, của để thì cái tôi càng lớn hơn. Khi đó động lực và cơ chế khuyến khích dễ bị bóp méo, nếu không có thể chế mạnh, để người ta tin rằng, cái tôi làm hôm nay sẽ được hưởng vào ngày mai, tương lai của tôi được đảm bảo.

Cuối cùng chính là sự minh bạch của thông tin sẽ giúp cho cả hai chữ I trên. Nếu thể chế có thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác, và kịp thời thì người dân sẽ tin tưởng vào chính thể mà họ đặt niềm tin tuyệt đối. Đó là chìa khóa cho phát triển.

Chữ I cuối cùng - TÔI

Chữ I trong tiếng Anh chính là TÔI. “TÔI” là ai, “TÔI” đang đứng ở đâu, “TÔI” sẽ làm gì cho đất nước và “TÔI” sẽ được gì, là những yếu tố không thể không xét đến.

Trong thời chiến, động lực cho chiến thắng là sự quyết tâm bảo vệ tổ quốc đến giọt máu cuối cùng. Cái “TÔI” cá nhân bị lu mờ đi rất nhiều bởi trách nhiệm chung trước sự sống còn của quốc gia. Trong thời bình, động lực cho phát triển mang tính cá nhân nhiều hơn, “TÔI” làm gì, được gì sau chuyện này, phần chia của “TÔI” như thế nào.

Nếu “TÔI” được giao trách nhiệm tạo ra một văn bản pháp lý mà chỉ nghĩ đến quyền lợi của gia đình riêng, bản thân và bạn bè, được gì sau chữ ký thì sẽ có một thể chế yếu.

Nếu “TÔI” thấy rằng thông tin này mà giấu được, “TÔI” sẽ được lợi, thì minh bạch thông tin sẽ là truyện dài nhiều tập không có hồi kết.

Nếu “TÔI” chỉ nhìn thấy hai cái “TÔI” như trên thì quốc gia ấy chứa đựng toàn những cơ chế khuyến khích bị bóp méo.

Để có Institutions, Incentive và Information theo đầy đủ nghĩa của nền kinh tế thị trường thì chữ I thứ 4 này vô cùng quan trọng.

Tiếng Anh và tiếng Việt cũng thú vị, I là tôi và tôi cũng là “ai” (I). Nếu hiểu đúng thêm chữ I này thì câu chuyện thần kỳ về 10 năm tiếp theo của Việt Nam của thời hội nhập không phải là giấc mơ quá cao xa.

HM

Bùi Tín, tuổi xế chiều ở Paris


Bùi Tín, tuổi xế chiều ở ParisTôi biết Bùi Tín từ những ngày Bùi Tín còn đương chức Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân phụ trách tờ Nhân Dân Chủ nhật. Thời đó, Bùi Tín đang nổi danh là một trong những cây viết có hạng của làng báo Việt Nam. Thông qua một người bạn, tôi đến gặp Bùi Tín và được Bùi Tín truyền cho một vài chiêu tác nghiệp. Tôi nhớ mãi bài học mà Bùi Tín hướng dẫn: “Đối với một nhà báo cách mạng, kiến thức thông tuệ và sự nhạy cảm là hai yếu tố đặc biệt quan trọng”.
Bùi Tín đưa dẫn chứng: Ngày giải phóng miền Nam, một nhà báo phương Tây hỏi tôi tại sân bay Tân Sơn Nhất: “Xin ông so sánh tướng Napoléon với tướng Võ Nguyên Giáp”. Tôi trả lời: “Napoléon còn có trận bại Aoxtéclích, còn Tướng Giáp không có trận bại nào, mà chỉ toàn thắng”. Đúng là một bài học có giá trị và rất đáng học tập.

Thế rồi, tháng 9/1990, Bùi Tín đi dự hội báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp rồi đào nhiệm luôn. Mới đầu Bùi Tín tung tin xin ở lại thêm một thời gian để chữa bệnh… Nhưng trên thực tế, Bùi Tín đã bí mật hợp tác với 13 hãng thông tấn, báo chí quốc tế và gần chục tờ báo phản động của người Việt ở hải ngoại để đăng tải những bài viết, tham luận chống lại dân tộc Việt Nam như: Kiến nghị của một công dân, Hoa xuyên tuyết, phỏng vấn đài BBC... Với tôi đó là thông tin bất ngờ ngoài dự kiến. Vì thế tôi đã mất khá nhiều thời gian để tìm hiểu.

Tháng 1/1997, tôi được Nhà nước cử sang làm phóng viên TTXVN tại Pari. Một trong những mong muốn của tôi là gặp Bùi Tín để trực tiếp nghe ông ta nói về lý do bỏ Tổ quốc ra đi. Đúng là trái đất tuy mênh mông nhưng vẫn còn chật lắm. Chỉ 10 tháng sau, tôi tình cờ gặp Bùi Tín. Hôm đó ngày 26/10, tôi cùng anh Hà Minh Huệ, lúc đó là Phó tổng biên tập TTXVN đi dự hội nghị các chủ bút Á - Âu lần thứ nhất ở Luých Xămbua trở về Paris.

Đến bến tàu đỗ đón khách, tôi không rõ ở ga nào, anh Hà Minh Huệ bỗng đập vào vai tôi hỏi nhỏ: “Này anh An, kia có phải là Bùi Tín không?”. Tôi ngước nhìn theo tay anh Huệ chỉ. Phía đối diện, một người đàn ông trán hói, thấp lùn đang vác một hộp các tông trên vai đi về phía chúng tôi. “Đúng là Bùi Tín rồi”, tôi trả lời anh Huệ và đứng lên: “Chào ông Bùi Tín”.

Vừa chào, tôi vừa giúp Bùi Tín để hộp các tông xuống và hỏi: “Ông có nhận ra chúng tôi không?”. Bùi Tín nhìn chúng tôi ngơ ngác: “Mình thấy quen quen nhưng thú thực không nhận ra ai cả”. Hà Minh Huệ tự giới thiệu mình, rồi giới thiệu tôi. Bùi Tín à lên một tiếng: “Mình nhớ ra rồi”.

Sau những câu xã giao bình thường, anh Huệ mở đầu một cuộc nói chuyện thẳng thắn: “ở nhà chúng tôi đã đọc những bài viết và nghe những lời trả lời phỏng vấn đài BBC của ông. Chúng tôi thấy ông chửi tuốt, kể cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà chúng tôi biết ông cũng vô cùng kính yêu. ông có thể giải thích vì sao không?”.

Bùi Tín lúng túng trả lời: “Mình cũng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ”. Vừa nói, Bùi Tín vừa loay hoay lục túi, lôi ra một tờ tạp chí tiếng Anh và khoe: “Tờ tạp chí vừa mới đăng bài mình viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đây”. Anh Huệ cầm đọc một lúc rồi nhìn thẳng vào Bùi Tín nghiêm giọng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của nhân dân thế giới nữa. Những ai viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với giọng điệu bôi đen như kiểu bài này của ông đều bị lên án, vì đó là sự vu khống và bịa đặt xấu xa”. Bùi Tín không phản ứng gì.

Sau khi phân tích và chứng minh những tình tiết sai trái nhằm ý đồ xấu trong bài báo, anh Huệ nói: “Đụng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là đụng đến niềm linh thiêng của cả dân tộc Việt Nam. ông biết rõ điều đó nhưng vẫn làm. Tại sao vậy?”. Lại im lặng. Tôi hỏi: “Bài viết này, tờ tạp chí trả nhuận bút cho ông được bao nhiêu?”. Bùi Tín hồ hởi trả lời: “Họ trả mình những 2.000 USD đấy”. Anh Huệ ơi, tôi thầm nghĩ, câu trả lời của ông ta chính là ở đây rồi.

Nhìn vẻ mặt vui như bắt được vàng của Bùi Tín, tôi thấy đau nhói trong lòng. Tôi biết ông ta đã bán hết những vốn liếng mà ông ta có. Bây giờ không còn gì nữa, ông ta bán nốt cái linh thiêng cuối cùng còn lại. Giận quá, tôi nói liền một mạch: “Hồi nghe tin ông đào nhiệm, tôi không thể lý giải nổi tại sao một nhà báo nổi danh và mang ơn cách mạng như ông lại ra đi. Có người giải thích vì ông mâu thuẫn nội bộ, tham nhũng, bồ bịch với gái cùng cơ quan… Tôi nghĩ những lý do này chưa đủ để ông chọn con đường quay lưng lại với dân tộc”.

Chỉ đến khi trò chuyện với dượng tôi, nhà thơ Phan Xuân Hạt, tôi mới hiểu rõ. Dượng tôi nói: “Ai chứ Bùi Tín thì dượng biết tận chân tơ kẽ tóc. Bùi Tín là người có tham vọng chính trị cực lớn. Với óc nhạy cảm thái quá, Bùi Tín cho là phe XHCN tan rã, Liên bang Xô viết sụp đổ, nước CHND Trung Hoa rối loạn, Bùi Tín tin là Việt Nam cũng sẽ nằm trong quỹ đạo đó. Và Bùi Tín đã nhanh chóng nhảy sang phía đối lập giương cờ để chờ cơ hội quay lại làm người số 1 của Việt Nam”. Tôi thấy dượng tôi phân tích đúng quá. Có lẽ những lời nói của tôi đã điểm đúng huyệt nên Bùi Tín im lặng. ông ta ngồi yên, mắt đờ đẫn như đang trôi đi trong dòng ký ức buồn.

Lần thứ hai tôi gặp Bùi Tín tại cuộc triển lãm Mùa xuân Việt Nam do Thị trưởng Paris, Jean Tiberi, phối hợp với cộng đồng Pháp ngữ tổ chức tại Forrum des Halles – Trung tâm văn hóa Pari từ 20/3 đến 20/5/2008. Đây là hoạt động mang tính quốc gia giữa hai nhà nước. Sự xuất hiện của Bùi Tín tại cuộc triển lãm này làm tôi và các đại diện của sứ quán Việt Nam hết sức bất bình. Tôi hỏi Thị trưởng Jean Tibveri: “Thưa ngài, hình như phía Pháp có mời ông Bùi Tín đến dự cuộc triển lãm Mùa xuân ViệtNam?”.

Thị trưởng Tiberi trả lời: “Không, phía Pháp không mời. Có thể thông qua quảng cáo, giới báo chí và công chúng biết nên tự do đến tham dự thôi”. Đại diện sứ quán Việt Nam nói ngay: “ông Bùi Tín là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi không chấp nhận sự có mặt của ông ta ở tất cả các hoạt động mang tính quốc gia giữa Pháp và Việt Nam”. Ngay lập tức, Thị trưởng Tiberi cho người đến mời Bùi Tín rút khỏi cuộc triển lãm. Nhìn Bùi Tín thất thểu ra về, tôi tiến đến: “Ông nên biết, nhân dân ViệtNam không bao giờ chấp nhận sự có mặt của ông ở những lễ hội như thế này”.

Lần thứ ba, tình cờ tôi gặp Bùi Tín trên đường phố. Tôi mời Bùi Tín vào quán cà phê. Bùi Tín kể cho tôi nghe câu chuyện ông ta mang ơn nước Pháp vì đã mổ thành công chứng đau dạ dày cho mình. Sau khi chỉ cho tôi xem vết mổ dài như chiếc đũa còn hằn rõ trên bụng, Bùi Tín nói: “Vết mổ mất nhiều nghìn USD đấy. Nếu ở nhà mình lấy đâu ra tiền để chữa”. Tôi nói: “ông nghĩ vậy là không đúng. Để tôi kể cho ông nghe câu chuyện này: ông có biết Mai Văn Hạnh chứ?”. “Biết”, Bùi Tín trả lời – “Đó là người Việt có quốc tịch Pháp bị Việt Nam tuyên bố tử hình nhưng được Pháp cứu”.

Biết Bùi Tín nói chưa đủ về Mai Văn Hạnh - một trong những tên cầm đầu nhóm phản động từ nước ngoài đột nhập vào trong nước nhằm lật đổ nhà nước Việt Nam, tôi bỏ qua để đi vào điểm chính: Có một lần tôi gặp Mai Văn Hạnh tại nhà một Việt kiều ở ngoại ô Paris. Trong cuộc gặp đó, tôi và Mai Văn Hạnh tranh luận với nhau rất quyết liệt về nhân tình thế thái. Bí thế, Mai Văn Hạnh nói: “Tôi theo chân lí được làm vua thua làm giặc. Nếu trong cuộc đấu ấy tôi thắng tôi sẽ làm vua. Nhưng kết cục tôi đã thua thì tôi phải làm giặc”.

Về điểm này, tôi khen Mai Văn Hạnh đã thẳng thắn nói rõ ý đồ “làm vua, làm giặc” của mình. Nhưng tôi còn khen Mai Văn Hạnh thêm một điểm khác nữa. Đó là khi Mai Văn Hạnh trung thực thừa nhận: “Dù sao thì tôi cũng cảm ơn Nhà nước Việt Nam đã cứu sống tôi khi tôi bị đau ruột thừa cấp tính. Bác sĩ Việt Nam giỏi lắm. Họ mổ miễn phí cho tôi nhẹ tênh mà không để lại tì vết nào trên cơ thể”.

Khỏi cần bình luận gì thêm, tôi biết Bùi Tín đã hiểu được nội dung giống và khác nhau trong 2 ca mổ dạ dày này. Nhân thể tôi nói luôn cho Bùi Tín biết nỗi đau mà Bùi Tín phải gánh chịu khi chọn con đường chống lại nhân dân mình. Tôi hỏi: “ông có biết về 3 nỗi đau mà ông đang phải chịu đựng không?”. Bùi Tín trả lời: “Tôi không biết?”. “ông có muốn nghe không?”. “Có”.

“Nỗi đau thứ nhất, ông bị nhân dân Việt Nam coi như một Trần ích Tắc phản nước hại dân. ở Việt Namai cũng căm ghét Bùi Tín. Ai cũng cho rằng Bùi Tín là kẻ vô ơn bạc nghĩa.

Nỗi đau thứ hai, giới trí thức ở hải ngoại cho rằng Bùi Tín được ăn rất nhiều lộc của Việt Nam mà trở cờ như vậy là “thất đức, khó tin”. Trong một lần cùng tiến sĩ Trần Ngọc Vương đến thăm họa sĩ Lê Bá Đảng, Đặng Tiến, nhà phê bình nổi tiếng ở hải ngoại, đã nhận xét: “Bùi Tín thuộc loại ăn cháo đái bát không đáng chơi”. Ngay đến Võ Văn ái, tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận rất phản động cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”.

Nỗi đau thứ ba, nhiều Việt kiều yêu nước không thể tin được hành động chạy trốn của Bùi Tín nên đoán già đoán non rằng Bùi Tín giả danh đào nhiệm để hoạt động gián điệp. Chính vì lẽ đó có người đã cho Bùi Tín vay khá nhiều tiền mà mãi đến nay vẫn không dám đòi”.

Nghe tôi nói, Bùi Tín ngồi bất động trên chiếc ghế bọc vải trắng của nhà hàng tầm bậc trung ở thủ đôParis hoa lệ. Trong ánh đèn nhập nhòa, mặt Bùi Tín trắng bệch không còn một giọt máu. Đúng là Bùi Tín đang ngấm vị đắng chát của ba nỗi đau cay đắng này. Tôi tiếp tục: “Bùi Tín nên biết rằng, Bùi Tín giống như quả chanh có ít nước đã bị người ta vắt sạch. Nay quả chanh vô giá trị, Bùi Tín đã bị người ta vứt vào sọt rác rồi. Bùi Tín có nhận ra điều ấy không?”. Biết trả lời thế nào được. Đúng là tôi đã hỏi khó Bùi Tín. Tôi sẽ không hỏi gì nữa. Tôi ngồi yên để Bùi Tín nhấp nháp ly cà phê gần như vẫn còn nguyên trên bàn.

Lần thứ tư, trước khi về nước, tôi gọi điện mời Bùi Tín ăn bữa cơm chia tay. Lần này tôi hỏi: “ông Bùi Tín có nhớ nước không?”. Như chạm đúng vào mạch cảm xúc thiêng liêng, đang ăn, Bùi Tín bỗng buông đũa, chống tay lên bàn, rơm rớm nước mắt: “Có, mình nhớ nước lắm. Có đêm mình mơ được về nước. Sướng quá mình vất dép đi chân trần chạy dọc theo bờ Hồ, thỉnh thoảng dừng lại đưa tay với những rặng liễu đang rủ bóng xuống mặt hồ xanh biếc. Có lần mình mơ được chạy mấy vòng quanh Hồ Tây lộng gió. ôi những giấc mơ đó sao mà hạnh phúc…”. Tôi hỏi: “Thế ông Bùi Tín có muốn về nước không?”. Bùi Tín nhìn tôi: “An nói đùa đấy chứ”. Tôi khẳng định: “Tôi nói thật 100%”. Bùi Tín thở dài: “Tôi không tin. Tôi nghĩ là họ sẽ không cho tôi về”. Tôi quả quyết: “Với tư cách là một công dân của nước Việt Nam, tôi xin bảo lãnh cho ông về nước”. Bùi Tín hoang mang: “An nói cụ thể hơn xem nào”. “Tất nhiên là phải có điều kiện”, tôi tiếp tục: “Bùi Tín ra đi như thế nào thì hãy trở về như thế”. “Nghĩa là làm sao?”. Bùi Tín hỏi. Tôi trả lời: “Nghĩa là khi đi Bùi Tín lên đài báo chửi bới dân tộc, thì bây giờ Bùi Tín lại lên đài báo tạ lỗi xin đồng bào tha cho những lỗi lầm nghiêm trọng mà Bùi Tín đã mắc phải trong nhiều năm qua. Với bản chất nhân ái cao cả, tôi tin nhân dân Việt Nam sẽ cho Bùi Tín cơ hội được trở về”. Nghe tôi nói, Bùi Tín ngồi lặng im một lát rồi mới tự thú: “Mình không làm được nữa”.

Bùi Tín sinh năm 1927, tính đến nay đã 85 tuổi. Bùi Tín luôn đau ốm, sống đơn độc không bằng hữu và đã sạch vốn bán chữ kiếm tiền. Với đồng lương thất nghiệp nhà nước Pháp cho, Bùi Tín chỉ đủ trả tiền thuê nhà. Bùi Tín phải chạy vạy kiếm tiền nuôi thân và nuôi cả cô Hà, một thợ cắt tóc Hà Nội được Bùi Tín đưa sang cưu mang che chở. Bùi Tín phải sống như thế nào đây ở những năm tháng cuối đời? Tôi biết Bùi Tín đã hiểu rất rõ cái giá cay đắng mà Bùi Tín phải trả cho tham vọng chính trị thái quá một thời của mình.

Biết là sẽ khó làm nhưng còn cách nào tốt hơn con đường trở về với cội nguồn - nơi có truyền thống chỉ “đánh kẻ chạy đi chứ không bao giờ đánh người quay lại”. Chính vì lẽ đó tôi vẫn muốn Bùi Tín hãy dũng cảm hối cải, lên lại đài báo thú tội trước nhân dân, ít ra cũng là để “lập công chuộc tội”




Nguyễn Đăng An