Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Tại Sao Những Người Tin Chúa Lại Thù Ghét Những Người Vô Thần?

Trần Chung Ngọc




06 tháng 6, 2010


Vài Lời Đầu:

Trên thế giới ngày nay có khoảng 6.3 tỷ người, trong đó có hơn 2/3 hoặc không biết đến Chúa hoặc không tin Chúa của Ki Tô Giáo. Nhưng Ki Tô Giáo, nhất là Ca-tô Rô-MaGiáo [Công giáo] lại đặc biệt thù ghét một lớp người nhỏ trong số người “không tin Chúa” mà họ gọi là “vô thần”.

Đọc trên Internet những bài viết của tín đồ Ca-tô Việt Nam chúng ta thấy họ luôn luôn lên án vô thần, coi vô thần như là một điều không thể tha thứ trước Chúa của họ. Họ luôn luôn coi Ca-tô Rô-MaGiáo của họ là thánh thiện, còn vô thần là ma quỉ, là hiện thân của Satan [vốn là một sản phẩm tưởng tượng của Ki Tô Giáo bày đặt ra để tự bảo vệ sự thánh thiện của Ki Tô Giáo, và thuận tiện đổ lên đầu Satan tất cả những hành động vô luân, tàn bạo, ác ôn của chính Ki Tô Giáo], nhất là khi họ kết hợp một cách vô cùng lếu láo vô thần với Cộng sản. Đám con chiên này, kể cả các bậc được gọi là trí thức Ca-tô, quả thực không biết gì về lịch sử, bản chất thực của Ca-tô Rô-MaGiáo cũng như lịch sử của vô thần.

Trước khi tìm hiểu tại sao những người tin Chúa của Ki Tô Giáo, nhất là những người Ca-tô Rô-MaGiáo Việt Nam, lại ghét những người vô thần, chúng ta cần kể đến hai tài liệu:

· Tờ Newsweek số ngày 7 tháng 5, 2007 có viết về chuyện một Mục sư tuyên úy phục vụ ở Iraq và nay trở về phục vụ trong Quân Y Viện Walter Reed. Bài báo viết về cuốn Nhật Ký của Mục sư tuyên úy Roger Benimoff. Những dòng cuối cùng trong Nhật Ký viết:

“Tôi không muốn dính dáng gì đến Thiên Chúa. Tôi thật chán ngấy tôn giáo. Đó là cặp nạng cho những kẻ yếu kém.. Chúng ta tạo ra Thiên Chúa cho những gì chúng ta cần đến trong một lúc. Tôi thậm ghét Thiên Chúa. Tôi thậm ghét tất cả những kẻ nào toan tính giảng giải về Thiên Chúa trong khi họ thực sự không hiểu gì về Thiên Chúa” [1]



· Cựu Thống Đốc Jesse Ventura của Bang Minnesota cũng đã từng phát biểu:

“KiTô giáo là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh của số đông”

(Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers)

Thật là rõ ràng, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chính là cặp nạng cho những người đầu óc yếu kém. Tâm lý người đời thường là ganh ghét vì mặc cảm thua kém. Người nghèo ganh ghét người giầu. Người thất bại ganh ghét người thành công. Người suốt đời phải cúi đầu theo “đức vâng lời” ganh ghét người tự do tư tưởng, tự do suy tư v…v…. Tất nhiên người phải cần đến cặp nạng để lê lết trên cuộc đời ganh ghét những người có thể tự mình bước đi những bước chân vững vàng trên mặt đất. Đó có lẽ là lý do tâm lý mặc cảm, một trong nhiều lý do mà người tin Chúa ghét người vô thần, trong khi thực ra người vô thần chỉ muốn giúp những người tin Chúa vứt bỏ đi cặp nạng của mình như trong câu chuyện sau đây của Robert G. Ingersoll:

Có một ông bác sĩ giải phẫu đến thăm một người tàn tật đáng thương và đề nghị giúp anh ta trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt đầu phân tích về bản chất và nguồn gốc chứng tật của người kia, về những loại thuốc có thể giúp anh ta, về sự lợi ích của tập luyện, của không khí trong lành và ánh sáng, và nhiều điều khác có thể giúp chữa lành được chứng tật của người kia. Tất cả những hành động này đều do thiện ý của một bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng sợ và kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái tôi phải tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ giải phẫu nói: “Tôi không có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa lành cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ cái cặp nạng ấy đi.”

Câu van xin đừng lấy đi cái cặp nạng Thiên Chúa của những người tin Chúa ở trên cũng là tâm cảnh của ông Thiện Ý trong bài: “NHẬN THỨC: TÔN GIÁO LÀ MỘT PHẠM TRÙ ĐỨC TIN VÀ LÀ MỘT DÂN QUYỀN HIẾN ĐỊNH CẦN ĐƯỢC PHÁP LUẬT BẢO VỆ” (đăng ở http://sachhiem.net/EMAILS/emailN/NguyethiThanh.php) mà nội dung chủ trương tôn giáo là một phạm trù đức tin cho nên không ai có quyền xâm phạm, và quốc gia cần phải có Pháp Luật để bảo vệ cái quyền mang cặp nạng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo nói chung. Nhưng trong mọi xã hội, đức tin tôn giáo không chỉ thuần túy là đức tin trong cộng đồng những người có cùng một đức tin, mà nó còn có ảnh hưởng đến mọi hình thái sinh hoạt của người dân và sự ổn định trong xã hội. Do đó, trong những xã hội văn minh tiến bộ Âu Mỹ, tôn giáo được coi như là một thành phần của xã hội, phải theo những quy luật của xã hội, do đó chúng ta thấy tràn ngập những tác phẩm phê bình tôn giáo, phê bình từ đức tin cho đến những hành động của tôn giáo bắt nguồn từ đức tin đó.

Đấu Tố Giao Điểm - Không Một Chứng Minh

Mở đầu, ông Thiện Ý mở một màn đấu tố Giao Điểm kiểu chụp mũ xuyên tạc để gây thù hận màkhông đưa ra bất cứ một luận cứ nào để phản bác bất cứ bài nào của Giao Điểm, nhất là không đưa ra bất cứ đoạn nào trong các bài trên Giao Điểm để chứng minh cho những điều ông ta viết như sau mà mục đích chỉ là vu khống để gây thù hận:

Không phải chỉ mới đây mà đã từ lâu nhóm Giao Điểm, một nhóm qui tụ những người vô thần đội lốt tôn giáo cực đoan, đã viết báo, viết sách và các phương tiện truyền thông khác để phê bình chỉ trích, bài bác, đánh phá Giáo hội Công Giáo nói riêng, Thiên Chúa Giáo nói chung, trên hai bình diện giáo lý tín điều và lịch sử hình thành, phát triển giáo hội. Bằng những nhận thức và suy luận chủ quan dựa trên những căn cứ giả chân lẫn lộn để ngụy biện, xuyên tạc sự thật, xử dụng những ngôn từ thiếu văn hóa lăng mạ Thượng Đế và các Thần Thánh mà hàng tỷ con người có chung niềm tin yêu tôn thờ, xúc phạm thô bạo niềm tin tôn giáo cá nhân cũng như tập thể. Đồng thời, bằng mọi cách gian trá, thậm từ mạ lỵ và phủ nhận công trạng [sic] các nhân vật lịch sử Việt Nam gốc Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Diệm (*) v.v…

(*) Về “Thực chất Nguyễn trường Tộ là Việt gian” xin đọc Bùi Kha.

Về “Ngô Đình Diệm thuộc giòng họ ba đời làm Việt gian” xin đọc Nguyễn Mạnh Quang.

Vì ông Thiện Ý chỉ viết vu vơ như trên, không cho độc giả biết những ai trong nhóm Giao Điểm làvô thần đội lốt tôn giáo cực đoan, và tôn giáo nào là tôn giáo cực đoan, cho nên những gì ông Thiện Ý viết vu vơ ở trên đều vô giá trị. Chuyện rõ như ban ngày, cả thế giới đều biết, từ xưa tới nay, hai tôn giáo cực đoan nhất chính là Ca-tô Rô-MaGiáo [Công giáo] và Hồi Giáo, và các tín đồ tôn giáo mê tín và cuồng tín nhất cũng là tín đồ Ca-tô và tín đồ Hồi giáo.

Vô Thần và Cộng Sản Không Phải Là Một

Đọc bài trên và bài “Quyết định sai lầm của người đứng đầu nhà nước Vatican đã gây hậu quả gì ?” (xem link http://sachhiem.net/TONGIAO/tgTH/ThienY01.php) của ông Thiện Ý về vụ việc ông “Tổng Kiệt nhục nhã” ra đi, tôi thấy ông ta đúng là một tín đồ Ca-tô mê tín và cuồng tín nhất hạng, cộng với một kiến thức có thể nói là đặc thù Ca-tô, nếu có thể gọi đó là kiến thức, một kiến thức không đội trời chung với sự tiến hóa của nhân loại cũng như với sự hiểu biết lịch sử. Thời buổi này mà ông ta còn cho rằng Giáo hội Ca-tô là do chính Chúa Giê-su thành lập và Giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần.

Ông ta không bao giờ viết về Cộng sản không mà bao giờ cũng kèm theo từ vô thần. Trong bàiQuyết định sai lầm của người đứng đầu nhà nước Vatican đã gây hậu quả gì ? dài độ hai trang, tôi đếm được ông ta dùng 16 lần cụm từ “nhà nước cộng sản vô thần Việt Nam” chứng tỏ ông ta không biết thế nào là vô thần, và kém đến độ không biết rằng viết như vậy thực sự là vinh danh, ca tụng Cộng sản. Người Ca-tô, trí thức hay không, đều chống Cộng một cách mù quáng như vậy cả. Họ nhắm mắt theo sách lược chống Cộng vô thần của Giáo hội ngày nay, đúng như nhận định của John Remsburg trong cuốn False Claims, trang 24:

Ngày nay Giáo hội không còn giết được nữa vì không còn quyền lực để mà giết. Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để chém giết người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và ngày nay giáo hội chỉ còn lại hai vũ khí: gây thù hận và vu khống. [2]

Khích động thù hận những người không tin Thiên Chúa

Gây thù hận là khích động con chiên thù hận và chống những người không tin Thiên Chúa tuy rằng Thiên Chúa của Ca-tô Rô-Ma Giáo là một nhân vật mà Kinh Thánh đã viết rõ, đúng như nhận định của Richard Dawkins như sau trong cuốn “The God Delusion”, trang 51:

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm[sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường. [3]

Trong bài “Về Ba Ngôi Thiên Chúa - Một Khảo Luận Trong Ánh Sáng Của Thánh Kinh Và Giáo Lý Công Giáo” (http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/3NGOI/TCN72.php ) tôi đã trích dẫn những đoạn trong Cựu Ước để chứng minh nhận định của Richard Dawkins như trên là không sai.



Quyền tin vào một Thiên Chúa như trên là quyền của bất cứ ai, nhưng dựa vào niềm tin đó để mà chống những người không tin Thiên Chúa, đó là chuyện trong thời Trung Cổ. Còn vu khống là kết hợp Cộng sản với vô thần, một kết hợp rất quái đản mà tôi sẽ chứng minh trong một phần sau.

Bảo vệ lịch sử đẫm máu và tàn ác của Giáo hội Ca-tô Rô-MaGiáo

Để bảo vệ cái lịch sử ô nhục, đẫm máu, tàn ác, bất nhân của Giáo hội Ca-tô Rô-MaGiáo, ông Thiện Ý đưa ra một luận điệu phi trí thức, phản văn hóa như sau:

Phạm trù “Đức tin tôn giáo” là không thể và không nên tranh luận:

Chính sự khác biệt giữ hai phạm trù “Tri thức” của khoa học và “Đức tin” của tôn giáo, nên không thể và không nên có các cuộc tranh luận (về giáo lý, tín điều…), dưới bất cứ hình thức nào (miệng hay bút chiến…) giữa những người khác tôn giáo hay giữa những người hữu thần với vô thần…

Tại sao lại không thể và không nên? Nếu không thể và không nên thì thế giới làm gì có tiến bộ. Nếu không thể và không nên thì nhân loại vẫn còn chìm đắm trong thời Trung Cổ, một thời đại mà các học giả đã gọi là “thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức” (The ages of barbarous and intellectual darkness) của Ca-tô Rô-MaGiáo, thời đại mà Ca-tô Rô-MaGiáo nắm quyền sinh sát trong tay cho nên đã gây ra bao nhiêu thảm họa cho nhân loại qua các cuộc Thập Tự Chinh, các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, các cuộc săn lùng, tra tấn và thiêu sống phù thủy v…v… trong vô số các tội ác khác, những tội ác kéo dài từ đầu lịch sử Ca-tô Rô-MaGiáo cho tới ngày nay, thế kỷ 21.. Ông Thiện Ý cũng không biết rằng, vì “có thể” và “rất nên” nên những người vô thần trong những thời đại khai sáng, thời đại phân tích v…v…, đã văn minh hóa Ca-tô Rô-MaGiáo, tước đi quyền lực của cái tôn giáo đã một thời nắm quyền sinh sát trong tay.

Kỳ lạ thay, chính Chúa Giê-su đã phán: “Sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [The truth will set you free], nhưng các tín đồ Ca-tô lại cứ luôn luôn sợ sự thật, cứ bám vào những xiềng xích đang trói buộc mình, và cố gắng hết sức để giữ lại cái cặp nạng Thiên Chúa. Thiện ý của Giao Điểmvà Sách Hiếm là giải hoặc Ki Tô Giáo qua những bài nghiên cứu nghiêm cẩn về Ki Tô Giáo, dựa trên những kiến thức chính xác về Ki Tô Giáo của chính nhiều bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo cũng như của hàng trăm học giả, chuyên gia nghiên cứu về Ki Tô Giáo, những kiến thức không ai có thể phủ bác hay cho đó là sai lầm, những kiến thức mà tuyệt đa số tín đồ Ki Tô Giáo hoặc không đủ trình độ để biết, hoặc bị giới chăn chiên che dấu kỹ hay đe dọa không cho tiếp cận.. Nhưng đối với ông Thiện Ý thì những kiến thức này chỉ là “ngụy biện, xuyên tạc sự thật, xử dụng những ngôn từ thiếu văn hóa lăng mạ Thượng Đế” hay “mạ lỵ và phủ nhận công trạng[sic] các nhân vật lịch sử Việt Nam gốc Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Diệm v.v…”

Vì khoảng cách kiến thức về tôn giáo và lịch sử quá sai biệt giữa những người Ca-tô và người trí thức ngoại đạo, nhất là giữa những người tin Chúa và người vô thần, cho nên tranh luận đối thoại với những người tin Chúa như ông Thiện Ý là chuyện mất thì giờ, vô ích. Trong bài này tôi chỉ tìm hiểu tại sao những người tin Chúa lại thù ghét những người vô thần.







Tại sao những người tin Chúa lại thù ghét những người vô thần ?

Đầu óc của những người tin Chúa đã bị điều kiện hoá và thuần hóa để hăng say chống Cộng vì họ được nhồi sọ Cộng sản là vô thần trong khi họ hoàn toàn không hiểu thế nào là vô thần. Người Cộng sản có thể là vô thần, nhưng người vô thần thì không nhất thiết phải là Cộng sản. Nước Mỹ ngày nay có tới 12% – 14% tự coi là vô thần, chẳng ai có thể bảo số người Mỹ này là vô thần Cộng sản !

Kết hợp Vô Thần với Cộng Sản là một thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là Ca-tô Rô-MaGiáo, dùng để gây hận thù tôn giáo, mê hoặc đám tín đồ thấp kém mê tín và cuồng tín, trong sách lược chống Cộng trước đây.



Sự khai thác lòng sùng tín đượm màu mê tín của giáo dân chúng ta có thể thấy rõ trong sách lược của Giáo hội ngụy tạo ra những màn hiện thân của bà Maria mà điển hình là vụ “Đức mẹ Maria” hiện ra ở Fatima để trao cho 3 đứa trẻ mù chữ những thông điệp chống Cộng gồm 3 điều bí mật: 1) Cảnh tượng của hỏa ngục; 2) tiên đoán Nga Sô sẽ cải đạo theo Ca-tô Rô-MaGiáo; và 3) một bí mật không được tiết lộ cho đến năm 1960, nhưng tòa Thánh đã dấu kín cho đến cuối thế kỷ 20, và khi John Paul II tiết lộ thì không ai biết đó có đúng là điều giáo hội đã ngụy tạo ra trước hay là mới ngụy tạo ra, nhưng điều chắc là, theo một số chuyên gia về Ca-tô giáo, thì điều “bí mật” sau cùng này là điều giáo hội mới phịa ra để đánh bóng vai trò của John Paul II trước tình trạng suy thoái hiện thời của giáo hội.



Sợ đen hơn đỏ.



Nhưng thực tế lịch sử thì sao? Chúng ta biết, đã có thời hầu hết các nước theo Ki Tô Giáo “hữu thần” ở Âu Châu đã chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều của “Cộng Sản”: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Ý, Nam Tư , Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bỉ, Đan Mạch, một phần nước Đức, và ngay cả trưởng nữ của giáo hội Ca-tô Rô-Ma: nước Pháp. Điển hình là ở Ba Lan, sau khi chế độ Cộng sản sụp đổ, Ba Lan vẫn “sợ đen hơn đỏ”. Điều này chứng tỏ những người theo Cộng Sản ở Âu Châu cũng như ở khắp nơi trên thế giới không hẳn là Vô Thần.



Chúng ta cũng biết, giáo hoàng John Paul II đã tuyên bố chẳng làm gì có hỏa ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất. Sự kiện này đã chứng tỏ những lời mô tả hỏa ngục của Đức Mẹ ở Fatima là do giáo hội bày đặt ra qua hoạt cảnh Fatima do giáo hội dàn dựng trước đây. Và chúng ta cũng đã biết, chính quyền Nga đã ra đạo luật đặt Ca-tô Rô-MaGiáo ra ngoài vòng pháp luật, cấm Ca-tô Rô-MaGiáo không cho truyền đạo trong nước, nên không làm gì có chuyện Nga Sô cải đạo theo Ca-tô Rô-MaGiáo..



Phù thủy chế tạo những “phép lạ”



Những sự kiện lịch sử trên đã chứng tỏ rằng “Phép lạ Fatima” hay “phép lạ Ca-tô” ở bất cứ đâu, như ở “La Vang” tại Việt Nam, chẳng hạn, chẳng qua chỉ là những màn lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin qua những trò bày đặt của giáo hội hoặc để chống Cộng, hoặc để nuôi dưỡng lòng sùng tín Maria của giáo dân, và nhất là để mang lại những lợi nhuận kinh tế. Thật vậy, những điều bí mật và tiên đoán mà bà Maria tiết lộ cho 3 em bé mù chữ ở Fatima rút cuộc đều sai bét.. Chúng bắt buộc phải sai vì chuyện đức mẹ hiện ra ở Fatima hay bất cứ ở đâu đều là chuyện hoang đường, và những lời giáo hội đặt vào miệng đức mẹ chỉ là những lời lừa bịp tín đồ vì ngày nay chúng đã chứng tỏ là không có điều nào đúng.



Chúng ta cũng còn nhớ chuyện bức tượng của đức mẹ khóc chảy máu mắt vì thương sót nhân loại (Đức mẹ quyền phép vô cùng nhưng chỉ biết khóc đến chảy máu mắt). Chỉ phiền có một điều là người ta đã mang máu mắt của Đức Mẹ đi phân tích DNA và chứng minh được rằng đó là máu của ...đàn ông. Giáo hội mẹ cũng như các giáo hội con không hề quan tâm đến sự kiện khoa học này, chỉ cần làm sao cho tín đồ tin, đổ xô đến lễ bái và … thu tiền là được rồi. Bởi vậy cho nên ngày nay tượng Chúa Giê-su chảy máu, hay tượng Đức Mẹ khóc, Giáo hội chỉ có thể cho xảy ra trong những kém phát triển về kinh tế, người dân còn sống trong khó khăn vật chất, dân trí chưa mở mang đúng mức, chứ không dám cho xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ trong đó người dân có mức sống thoải mái và có tinh thần độc lập như Anh, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, và nhất là, những màn ngụy tạo phép lạ không thể qua mắt được những khoa học gia đương đại.



Thật vậy, ở Úc trước đây, vụ một linh mục Việt Nam dàn dựng ra cảnh tượng Đức Mẹ chảy dầu đã bị chính giáo hội Ca-tô Rô-Ma Úc điều tra và phủ bác, coi là ngụy tạo dàn dựng. Thật không biết xấu hổ, thời buổi này mà chúng ta còn thấy những tên bất lương vẫn còn tiếp tục khai thác sự yếu kém tinh thần của đám con chiên một cách bất chính. Nhưng đó hầu như là bản chất của một tôn giáo “mạc khải”, “tông truyền”, “thánh thiện”, là “thân thể của Chúa”, là “hiền thê của Chúa”, một tôn giáo thường tự nhận là “văn minh tiến bộ” nhất thế giới.





Kết hợp “Cộng sản” với “Vô thần”: một ná, bốn năm chim

Tại sao Ca-tô Rô-MaGiáo lại kết hợp Cộng sản với vô thần rồi chống đối một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy?

Thật là dễ hiểu, vì lý thuyết của Marx, không hẳn là vô thần, chủ trương bác bỏ một Thiên Chúacủa Ki Tô Giáo, một Thiên Chúa có những thuộc tính không xứng đáng với một Thiên Chúa nếu thực sự là Thiên Chúa. Marx muốn loại bỏ một Thiên Chúa bất xứng như vậy ra khỏi đầu óc con người, vì một Thiên Chúa như vậy chỉ có tác dụng làm tê liệt đầu óc con người như thuốc phiện. Chúng ta nên nhớ, khi Marx nói “tôn giáo là thuốc phiện” thì tôn giáo đây là Ki Tô Giáo mà Marx biết rõ chứ không phải nói về mọi tôn giáo, thí dụ như Phật Giáo hay Lão Giáo mà Marx không hề biết gì về những tôn giáo này. Kết quả lý thuyết Marx đã làm cho người dân Âu Châu thức tỉnh phần nào, vứt đi cặp nạng Thiên Chúa, và đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn. Hiện tượng này thật là rõ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà còn ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition, Prometheus Books, New York, 1994): “Căn nguyên sự thù ghét của giáo hội Ca-tô đối với Cộng Sản là giáo hội ý thức được rằng Cộng Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.” (The root of the (Catholic) Church’s antipathy toward Communism is its realization that Communism is, in effect, a rival religion).

Cũng vì vậy mà Ki Tô Giáo, nhất là Ca-tô Rô-MaGiáo, đã dùng mọi thủ đoạn, khai thác sự cuồng tín và mê muội của tín đồ, gây căm thù trong đầu óc họ đối với Cộng sản mà Ki Tô giáo gán cho hai chữ Vô Thần, hàm ý Cộng sản chống Thần của Ki Tô Giáo. Thật ra thì Ki Tô Giáo đã mượn Cộng sản để chống vô thần.





Vì không có một căn bản triết lý nào để chống vô thần nên Ca-tô Rô-MaGiáo đã kết hợp vô thần với Cộng sản, thổi phồng mặt tiêu cực của Cộng sản để chống vô thần, và lờ đi cái lịch sử ô nhục tàn bạo của mình. Cùng một sách lược, trước sự phát triển của Phật Giáo ở Tây phương, giáo hoàng John Paul II đã viết cuốn Bước Qua ngưỡng Cửa Hi Vọng trong đó ông ta phê bình:“Phật giáo đại để là một hệ thống “vô thần”” (Buddhism is in large measure an “atheistic” system). Câu viết đần độn lắt léo này chỉ có mục đích đồng nhất hóa “vô thần” của Cộng Sản với “vô thần” của Phật Giáo để giữ đám tín đồ đừng đi theo Phật Giáo. Giáo hội cũng tận dụng mọi phương tiện truyền thông tuyên truyền để tẩy não đám tín đồ có đầu mà không có óc, cấy vào đầu óc họ một ý niệm là “Vô thần tất nhiên phải xấu, chỉ có tôn giáo “hữu thần” mới là tốt” trong khi lịch sử đã chứng tỏ là trái ngược hẳn lại. Những người vô thần nổi tiếng từ xưa tới nay đều là những bậc thông thái, có đạo đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô đạo đức như một số giáo hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Ca-tô Rô-MaGiáo như lịch sử đã chứng minh. Và trong những xã hội Ki Tô Giáo “hữu thần”, tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của, loạn luân, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, ma túy v..v.. đã vượt trội những xã hội “vô thần”.

Theo định nghĩa, Vô thần có nghĩa là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa (Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God). Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là chống Thiên Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích. Nói cho đúng ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra, một Thiên Chúa không đáng để cho ai thờ phụng như Giám mục John Shelby Spong đã nhận định trong cuốn Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:

Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng…

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. [4]



Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: Cọng sản là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế (Communism is a socio-economic political system) trong khi Vô Thần là một lập trường của các cá nhân đối với các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là Ki Tô Giáo (Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western religion.), và Vô Thần đã có từ trên 2000 năm nay, với những Socrates, Plato, Aristotle, Epicure v..v.., chứ không chỉ mới có trong lý thuyết của Marx. Thực tế thì Cộng sản mới chỉ thực sự ra đời cách đây chưa đầy 100 năm, từ 1917 ở Nga.



Người Ca-tô, trí thức hay không, đều chống Cộng một cách mù quáng khi kết hợp Cộng sản với vô thần. Để mở mang đầu óc của họ, để giúp cho họ có thể vứt bỏ được những cặp nạng không cần thiết để có thể tự mình hai chân bước vững chãi trên đường đời, và để cho họ thấy họ chống “Cộng sản vô thần” thì chỉ chứng tỏ họ là những tín đồ cuồng tín, vô kiến thức. Sau đây tôi sẽ giới thiệu vài tài liệu để cho họ hiểu rõ hơn về “vô thần” và từ đó có thể thoát ra khỏi cảnh ngu ngơ với từ “cộng sản vô thần”.

Giữa thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo. Chúng ta hãy nhớ đến cuộc cách mạng của Pháp vào năm 1789, trong đó người dân Pháp đã nhìn Ca-tô Rô-MaGiáo như thế nào và đã có những biện pháp nào đối với Giáo hội Ca-tô ở Pháp. Pháp, Trưởng Nữ của Giáo Hội Ca-tô Rô-ma, trong cuộc Cách Mạng 1789, đã chính thức đưa Lý Trí lên bàn thờ Chúa, đã tàn sát trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu và 47 Giám Mục, và đã dẹp mọi Trường Dòng, Trường Học Công Giáo, những Dòng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v.. [Xin đọc The Decline and Fall of The Roman Church của Linh mục Dòng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đã phục vụ trong Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII, trang 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries...”]



Ca-tô Giáo là một hiểm họa của quốc gia

Người đọc sử không thể không tự đặt cho mình một câu hỏi: Nước Pháp vào thế cuối thế kỷ 18 có thể gọi là toàn tòng Ca-tô. Nền giáo dục quốc gia nằm trong tay giới giáo sĩ. Nếu Ca-tô Giáo thực sự là một lực lượng tinh thần của dân chúng, nếu Ca-tô Giáo là một “hội thánh” được chỉ đạo về luân lý đạo đức bởi các giới giáo sĩ và nữ tu, nếu Ca-tô Giáo thực sự mang phúc lợi đến cho quốc gia v..v.. , thì tại sao lại lại có thể xảy ra những vụ tàn sát như trên trong cuộc cách mạng 1789? Câu trả lời thật là đơn giản. Vì Ca-tô Giáo là một hiểm họa của quốc gia. Chúng ta có thể nhận rõ hiểm họa này qua vài hành động của giới trí thức Pháp vào thời đó.



Nhà đại văn hào Victor Hugo đã đưa ra nhận định: “Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đi bởi hai cách nhận chìm nó, hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nó: sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục. Sự xâm lăng của các quân lính đe dọa mẹ chúng ta: tổ quốc; sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta: tương lai.” [5]

Các trí thức Pháp đã nhận thức được sự quan trọng của một nền giáo dục khai phóng, tiến bộ, yêu nước, cho nên họ đã cương quyết chống lại nền giáo dục của giáo hội Ca-tô mà họ cho là có mục đích “dạy dỗ những đứa trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng” (Élever les enfants contre leur pays et contre leur temps); và họ đã thành công trong việc “Giật con em ra khỏi bàn tay giáo dục của những linh mục, vạch trần những sự đạo đức giả của Giáo hội.” (Arracher l’enfant au moine, dévoiler les hypocrisies de l’Église).

Nhưng có vẻ như đám người cuồng tín thấp kém, tin nhảm tin nhí,, không chỉ giới hạn ở Âu Châu trong thế kỷ 18, mà ngày nay, đã trải qua vài thế kỷ mà đầu óc của một số không nhỏ tín đồ Việt Nam vẫn không theo kịp được đà tiến hóa của nhân loại, cho nên chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần” tràn ngập trên Internet, hàm ý “vô thần” là một cái gì xấu xa, vì không chịu tin nhảm tin nhí vào vào thần của họ. Thật là tội nghiệp, họ có biết đâu “vô thần” là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức. Vì họ đã bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt đầu óc, khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên trường đời. Họ được dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất cứ giá nào, họ phải chống những người “vô thần” để duy trì cặp nạng của họ.

Tiến bộ trí thức: từ “tin Chúa” đến “không tin Chúa”

Frank E. Tate đã tuyên bố như sau về sự tiến bộ trí thức từ “tin Chúa” đến “không tin Chúa”:

“Trong đời tôi, tôi đã tiến bộ từ một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là một người vô thần. Tôi dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự là một sự tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý đã lỗi thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.

Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh kinh Do Thái – Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu, dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và sự an sinh của những người nào không bày tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được trình bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được” [6]

Và James A. Haught cũng viết trong cuốn “2000 Years of Disbelief: Famous people with the Courage to Doubt”, trang 11-14, về lịch trình phát triển “vô thần” ở Tây phương:

“Những người thông minh, có học thức, thường không tin là có đấng siêu nhiên. Cho nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên nếu chúng ta thấy một tỷ lệ cao những người nghi ngờ tôn giáo (Tây phương) trong số những tư tưởng gia, khoa học gia, văn gia, những nhà cải cách, học giả, tiền phong trong dân chủ, và những nhà thay đổi thế giới – những người thường được gọi là danh nhân.

Sự tiến triển của nền văn minh Tây phương đã là một phần của câu chuyện chiến thắng từ từ trên sự đàn áp của tôn giáo (Ki Tô giáo). Sự nổi giậy của thuyết nhân bản đã chuyển trọng tâm của xã hội ra khỏi sự tuân phục các giám mục và vua chúa để đi tới những quyền của cá nhân và điều kiện sinh sống của con người. Phần lớn sự tiến bộ này đã được thúc đẩy bởi những con người, nam cũng như nữ, không cầu nguyện (Thiên chúa),không quỳ trước bàn thờ (trong những nhà thờ), không đi hành hương (các thánh địa của Ki Tô Giáo), không đọc những Kinh Tin Kính.

Nền văn hóa Tây phương đã đi theo một hành trình thất thường. Hi Lạp và La Mã cổ xưa đã đồng hành với sự tìm hiểu trí thức giữa quan niệm tôn giáo đa thần. Thế rồi Thời Đại Đức Tin của Ki Tô Giáo đã mang lại sự tối tăm trong nhiều thế kỷ. Thời đại Phục Sinh đã làm sống lại chủ thuyết cá nhân và quyền suy tư tự do, bay bổng lên trong Thời Đại Lý Trí và Thời Đại Khai Sáng. Với sự nở rộ của khoa học trong thế kỷ 19, nhiều tư tưởng gia đã cho rằng tôn giáo huyền bí (tức Ki Tô Giáo) sẽ phải tan biến, và đại cương thì điều này đã xảy ra trong giới trí thức.

Dần dần, lối suy nghĩ khoa học tiến triển, và tôn giáo thoái lui, quyền tự do không tin đã nhô lên ở Tây phương..

Cuối cùng, quyền không tin đã được thiết lập. Tự do suy tư nở rộ trong giới trí thức Âu Châu và Mỹ, đạt tới thời vàng son vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Những người không tin như Robert Ingersoll đã thực hiện những chuyến du thuyết thách đố chủ thuyết siêu nhiên (Ki Tô Giáo). Những nhà báo như H. L. Mencken công khai tấn công “sự mê tín” (của Ki Tô Giáo).

Thật là một điều mâu thuẫn lạ lùng: một phần đáng kể dân chúng khắp thế giới vẫn còn thờ phụng những thiên chúa không ai nhìn thấy, đôi khi còn giết người cho những thiên chúa này – trong khi hầu hết những tư tưởng gia, khoa học gia, văn gia, và những giới trí thức khác thường là đã loại bỏ đấng siêu nhiên.

Đối với bất cứ ai duyệt qua quá khứ và quan sát thế giới ngày nay, hầu như không thể nào tìm ra được một người có tiếng tăm – ngoại trừ đối với các giáo hoàng, tổng giám mục, vua chúa và các nhà cầm quyền đi kiếm hậu thuẫn của quần chúng - lại có thể nói rằng mục đích của đời sống con người là được “cứu rỗi” bởi một Giê-su vô hình và lên một thiên đường vô hình. Nhưng thật là dễ dàng tìm được rất nhiều người không tin cái tín lý căn bản này trong số những danh nhân.” [7]



Nhưng đặc sắc và chính xác hơn cả là bài thuyết trình của Emmett F. Fields. Trong bài thuyết trình này, tác giả chủ yếu nói về Ki Tô Giáo nhưng khi thì dùng từ “tôn giáo” (religion) khi thì dùng từ Ki Tô Giáo (Christianity). Đọc phần tiếng Anh chúng ta thấy rõ như vậy. Cho nên tôi đã thay một số từ “tôn giáo” bằng Ki Tô Giáo để cho dễ hiểu.

Sau đây là phần trích dẫn một vài đoạn trong bài thuyết trình, đọc đoạn này chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa những người tin Chúa và những người không tin Chúa (vô thần). Và từ những hiểu biết này chúng ta cũng có thể thấy những người Ki Tô Giáo không có tư cách để chống những người vô thần, bản chất của họ là những con chiên thấp kém, ít hiểu biết, cuồng tín, chống vô thần theo tiếng chuông “kích thích điều kiện hóa” [conditioned stimulus] của Pavlov, chứ thực sự họ không hề biết gì về vô thần.

Bước đầu tiên trong việc tìm hiểu vô thần là phải loại bỏ những lời nói láo và tuyên truyền mà Ki Tô giáo truyền bá để chống vô thần. Vô thần không chỉ là kiến thức về sự không hiện hữu của các thần mà còn hơn nữa, là kiến thức về sự sai lầm hay gian xảo của Ki Tô giáo. Vô thần là một thái độ, một khung trí tuệ nhìn thế giới một cách khách quan, không sợ hãi, luôn luôn tìm hiểu mọi sự việc như là một phần của thiên nhiên. Có thể nói rằng vô thần có một giáo lý là phải đặt nghi vấn và một tín lý là phải nghi ngờ. Đó là trí tuệ con người trong môi trường thiên nhiên, không có gì là quá thánh thiện để không được tìm hiểu, không có gì là quá thiêng liêng để không được đặt nghi vấn. Cuốn Thánh Kinh của người vô thần, có thể nói như vậy, chỉ có một từ: “HÃY SUY NGHĨ”. Vô thần là sự giải thoát hoàn toàn của đầu óc con người khỏi những xiềng xích của sợ hãi và mê tín.

Vô thần tuyệt đối không có gì tiêu cực; sự thật không bao giờ có thể là tiêu cực. Vô thần đòi hỏi chứng minh, hay ít nhất là những bắng chứng hợp lý, và chỉ bác bỏ những gì không đáp ứng được sự đòi hỏi của sự hiểu biết thông thường. Trong suốt lịch sử, mọi tiến bộ trong xã hội có được là từ sự nghi ngờ và loại bỏ những ý tưởng, những tập quán, và những niềm tin cũ kỹ [vì không còn đúng]. Cái cây kiến thức nhân loại chết khi nó đang mọc lớn, với những cành lá mới mọc từ những phần đang chết, và thay thế những phần này với những niềm tin chân thật và tốt đẹp hơn. Nhà Thần học là một con cú, đậu trên một cành cây đã chết của cái cây kiến thức nhân loại, và rúc lên cùng những tiếng rúc cũ kỹ đã từng rúc lên trong nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhưng hắn chưa bao giờ phát ra một tiếng kêu rúc nào cho sự tiến bộ.

Về đạo đức, Vô thần ở ghế thượng phong trên Ki Tô giáo. Sự thất bại lớn của đạo đức Ki Tô giáo bắt nguồn từ ảo tưởng của họ về một đạo đức đứng trên đúng hay sai [vì là đạo đức của Thiên Chúa]. Đầu óc của người theo Ki Tô giáo đã biết là tra tấn và giết người là sai lầm, bạo hành và thù hận là sai lầm, cưỡng bức người khác vào đạo là sai lầm. Ki Tô giáo đã biết những điều đó là sai lầm, nhưng đầu óc của những người theo Ki Tô giáo trở nên tồi tệ vì cái ảo tưởng về một nền “đạo đức cao hơn”, và vì cái ảo tưởng này mà lịch sử nhân loại ngập máu những người vô tội. Nhân danh “thiên chúa” và một nền “đạo đức cao hơn” của họ, những người Ki Tô Giáo đã tiến hành những cuộc thánh chiến để tiêu diệt, đã cướp bóc, tra tấn và tàn sát những người không thể đồng ý với họ, hoặc chưa tùng nghe đến tôn giáo của họ. Nhân danh nền “đạo đức cao hơn” này, những người Ki Tô Giáo đã thù hận, săn lùng, bạo hành, và thiêu sống người “lạc đạo”, người “vô tín”, và người “vô thần”.

Và ngày nay, như đã từ bao giờ, khi tín đồ Ki Tô giáo làm những việc mà ngay hắn cũng biết là sai lầm và vô luân, nhưng cái ảo tưởng của hắn về một “quyền năng cao hơn”[của Thiên chúa] và một nền “đạo đức cao hơn” [của Ki Tô giáo] cho phép hắn trình diễn vài lễ tiết, xưng tội, hay cầu nguyện thì kỳ lạ thay, ngay lập tức, “tất cả tội lỗi của hắn đều được xóa bỏ”, và hắn lại không còn có thắc mắc gì về lương tâm hay hối hận.

Những ảo tưởng điên rồ như vậy không làm cho đầu óc người vô thần thoải mái. Người vô thần biết rằng không có đạo đức nào đứng trên đúng và sai, và con người không thoát ra khỏi được sự cắn rứt của lương tâm và hối hận. Giết người là giết người, ăn cướp là ăn cướp, thù hận và bạo hành là những tội ác chống nhân loại. Về đạo đức, lịch sử cho chúng ta thấy, làm người vô thần thì tốt hơn là làm người Ki-Tô.

Ki Tô giáo cho rằng sự vô đạo đức nẩy ra là vì thiếu vắng Ki Tô giáo, nhưng những sự kiện đã chứng tỏ ngược lại. Ki Tô Giáo chưa bao giờ mạnh như bây giờ, họ có nhà thờ trong mọi cộng đồng, độc quyền chiếm giờ trên đài phát thanh và đài truyền hình để tuyên truyền cho Ki Tô giáo, và họ đã cưỡng nhét Ki Tô giáo của họ vào chính quyền, luật pháp và trường học của chúng ta. Họ đã làm những việc chống với Hiến Pháp của Mỹ, và chống những quyền căn bản và thiêng liêng nhất của mọi người Mỹ khác. Họ đã len lỏi vào những nơi họ không được vào, những nơi không có việc của họ, bịt miệng mọi chống đối, mọi quan điểm khác, bỏ thuốc độc vào cái giếng hiểu biết của chúng ta và làm nguy hại đến những gốc rễ của quốc gia chúng ta.

Ki Tô giáo ngày nay mạnh như vậy, nhưng chúng ta không đạt được một mức đạo đức nào đáng kể trong quốc gia này. Không ở đâu khác cho thấy sự thất bại về đạo đức Ki-tô giáo rõ rệt như ở Mỹ. Trong cùng một thời gian mà Ki Tô giáo trở nên mạnh hơn và giầu có hơn, trong 30 năm qua, vấn nạn dùng các loại ma túy đã trở thành một vấn nạn xấu xa của quốc gia, số tội ác tăng gia nhanh chóng, tỷ lệ ly dị tăng vọt, và trong thời gian này quốc gia của chúng ta bị lôi cuốn vào nhiều cuộc chiến tranh và xung đột thế giới hơn bao giờ hết trong lịch sử. Ngay bây giờ chúng ta có những tỷ lệ dùng ma túy, phạm tội ác, ly dị cao nhất cùng với “tỷ lệ theo Ki Tô giáo” cao nhất chưa từng có trong lịch sử quốc gia này. Ki Tô Giáo có thể nói gì về những sự kiện này và làm sao để chữa chạy chúng. Họ bảo chúng ta là chúng ta cần nhiều đến Ki Tô giáo hơn và cương quyết áp đặt Ki Tô giáo lên chúng ta. Ki Tô Giáo cảm thấy quá mạnh ngày nay và họ đang đi vào chính trị để cưỡng đặt nền đạo đức thất bại của họ trên mọi người Mỹ qua sự Độc Tài của Ki Tô Giáo và một Thời Đại Tăm Tối mới.

Một khi thái độ vô thần đã đạt được, và đầu óc đã thoát khỏi những sự sợ hãi và niềm tin trong Ki Tô giáo đã được cấy vào chúng ta từ khi còn nhỏ; và một khi chúng ta có thể nhìn vào tôn giáo một cách khách quan không thiên vị, thật hiển nhiên là Ki Tô giáo có tất cả những đặc tính của một dạng tâm linh điên rồ. Tùy theo mức độ, người sùng tín Ki Tô giáo phải chấp nhận, và tin, vào một thế giới khác; một thế giới siêu nhiên hay khác thường, một thế giới có đầy những nhân vật tưởng tượng gọi là thiên chúa, quỷ, thánh v..v.. Người ta nói với những tạo vật tưởng tượng này, xin xỏ ân huệ, sự hướng dẫn, những “dấu hiệu”, hoặc phép lạ, và rồi hoặc quy trách hoặc tạ ơn những biến cố thiên nhiên sau đó xảy ra. Nếu không phải là khoác bộ áo tôn giáo thì những niềm tin và những hành động như vậy phải coi là của một người điên, cần phải vào nhà thương điên để chữa trị.

Sự nghiên cứu lịch sử sẽ biện minh thêm cho thuyết Ki Tô giáo là một dạng tâm linh điên rồ. Không có một đầu óc lành mạnh nào lại có thể gây ra những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, những cuộc thập ác chinh mà những người bị chinh phục, đàn ông, đàn bà, trẻ con, và ngay cả con nít đều bị giết chỉ vì họ là những người “không tin” hay “lạc đạo”. Những tù ngục tối tăm và những phòng tra tấn của những tòa án thánh xử dị giáo không thể nào bị cai quản bởi những đầu óc lành mạnh. Và phải là loại đầu óc điên rồ, đầu óc Ki Tô giáo, mới trói người phụ nữ vào cột, rồi chất củi thiêu sống vì cái tội không thể nào có là phù thủy. Không có người nào tỉnh táo có thể đọc những chuyện khủng khiếp, hiếp dâm và giết người trong một cuốn sách man rợ mà người ta gọi cuốn sách đó là “Lời của Thiên Chúa”. Và huyền thoại về Giê-su, về một thiên chúa phải xuống làm người và bị giết trước khi có thể tha thứ tội lỗi cho nhân loại, là chuyện điên rồ nhất trong những chuyện điên rồ.

Ngày nay, Ki Tô Giáo cố tình không biết đến, hay giấu kín và phủ nhận cái lịch sử đẫm máu của mình và tự tôn là nền tảng đạo đức của chúng ta, và là nền tảng ngay cả nền văn minh của chúng ta. Ki Tô Giáo tự cho rằng là nguồn hi vọng duy nhất của chúng ta trong tương lai. Nhìn vào lịch sử Ki Tô Giáo, những điều tự nhận như vậy, bản chất chỉ là những lời nói điên dại.[8]



Những người Vô thần tiếng tăm trên thế giới

Để hiểu rõ hơn những người vô thần là những người như thế nào, sau đây là tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi trên thế giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600 nhân vật (lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of Disbelief: Famous People With The Courage To Doubt của James A. Haught, Prometheus Books, 1996, những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn thể của những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C:



Lord Acton, John Adams, Ethan Allen, Steve Allen, Aristotle, Isaac Asimov, Sir Francis Bacon, Honoré de Balzac, Charles Baudelaire, Simone de Beauvoir, Ludwig van Beethoven, Hector Berlioz, Georges Bizet, Charles Bradlaugh, Johannes Brahms, Benjamin Britten, Giordano Bruno, Pearl Buck, Albert Camus, Andrew Carnegie, Marcus Tullius Cicero, Auguste Comte, Confucius, Nicolaus Copernicus, Clarence Darrow, Charles Darwin, Claude Debussy, Daniel Defoe, Demosthenes , Charles Dickens, Denis Diderot, Diogenes, Alexandre Dumas , Will Durant, Thomas Eddison, Albert Einstein, George Eliot, Albert Ellis, Empedocles, Euripides, William Faulkner, Richard P. Feynman, Gustave Flaubert, Antony Flew, George William Foote, Anatole France, Benjamin Franklin, Sigmund Freud, Galileli Galileo, Indira Gandhi, Mohandas Gandhi, Giuseppe Garibaldi, Edward Gibbon, André Gide, Johann Wolfang von Geothe, Thomas Hardy, Stephen Hawking, Joseph Haydn, George W. F. Hegel, Martin Heidegger, Fred Hoyle, Victor Hugo, David Hume, Aldous Huxley, Robert G. Ingersoll, Thomas Jefferson, James Joyce, Franz Kafka, Immanuel Kant, Johannes Kepler, Jean de la Bruyère, Pierre Simon de Laplace, William E. H. Lecky, Abraham Lincoln, John Locke, James Madison, Karl Marx, Jules Massenet, Somerset Maugham, Guy de Maupassant, Henry Louis Mencken, Michel de Montaigne, Baron de Montesquieu, Wolfang Amadeus Mozart, Jawaharlal Nehru, Friedrich Nietzsche, Madalyn Murray O’Hair, Thomas Paine, Blaise Pascal, Pablo Picasso, Max Planck, Marcel Proust, Jules Renard, Eleanor Roosevelt, Theodore Roosevelt, Jean-Jacques Rousseau, Carl Sagan, George Sand, George Santayana, Jean Paul Sartre, Arthur Schlesinger, William Shakespeare, Adam Smith, Socrates, Baruch Spinoza, Richard Strauss, Leo Tolstoy, Mark Twain, Voltaire, George Washington, Daniel Webster, H. G. Wells, Zeno, Émile Zola.



Xin hỏi trong số 113 người vô thần trên, có người nào là Cộng sản không?



Và hiện nay, ở bên Anh, hai nhà vô thần nổi tiếng là Richard Dawkins (tác giả The God Delusion) và Christopher Hitchens (tác giả God Is Not Great) đang vận động để truy tố theo pháp lý Giáo hoàng Benedict XVI về tội bảo vệ, bao che các giám mục, linh mục loạn dâm lan tràn trong giáo hội. Hai nhà vô thần nổi tiếng nầy, tuyệt đối không tin có Thần/Chúa của Công giáo, cũng không là Cộng sản.



Riêng về Việt Nam thì những ai là “vô thần” theo nghĩa không biết đến, không tin, không công nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo? Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quốc sư Vạn Hạnh, Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Hồ Chí Minh v...v... Những bậc tiền nhân này đã làm gì cho nước Việt nếu không phải là có công đánh đuổi xâm lăng, bảo toàn chủ quyền, nền độc lập quốc gia, hoặc làm rạng danh nền văn hóa Việt Nam? Còn những kẻ “tin Chúa” một cách rất hữu thần là ai? Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Paulus Của, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh v..v.. Họ là ai? Toàn là Việt gian bán nước, theo giặc chống lại tổ quốc, hoặc cuồng tín, nô lệ Vatican như Ngô Đình Diệm?

Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện bán nước của Ca-tô Rô-MaGiáo Việt Nam qua văn kiện có tính cách khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốnCatholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại." [9]



Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho hành động bán nước của linh mục Trần Lục, người dẫn 5000 giáo dân đi tiếp tay, hỗ trợ quân đội Pháp để hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng?



Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện là giám mục Lê Hữu Từ đã theo lệnh chống Cộng của giáo hoàng Pius XII, nhận vũ khí của Pháp khi Pháp trở lại Việt Nam, tổ chức những “khu tự trị” (sic) Phát Diệm, Bùi Chu để giết dân ngoại đạo vô tội, đi cướp phá các làng “lương”” dưới chiêu bài chống Cộng sản Vô Thần.

Ai có thể phủ nhận là chính quyền Ngô Đình Diệm đã mượn chiêu bài “tố Cộng” để giết hại hoặc cưỡng bách người ngoại đạo vào đạo trong sách lược Ca-tô hóa miền Nam?



Vậy thì giữa “không tin Chúa” nhưng cứu nước và làm rạng danh nước, và “tin Chúa” nhưng nô lệ ngoại bang, phản bội quốc gia, người dân Việt nên chọn thứ nào? 93% dân Việt đã chọn “không tin Chúa”, còn 7% chọn “tin Chúa”. Viết như trên không có nghĩa là tất cả 7% người dân Việt theo Ca-tô giáo đều là những người bán nước, phản bội quốc gia. Phần lớn họ là nạn nhân của một nền thần học ru ngủ xảo quyệt, không đủ trí tuệ để nhận ra bộ mặt thật của tôn giáo họ, ham hố một sự “cứu rỗi” không tưởng, tin theo luận điệu bịp bợm của giáo hội như giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần, “Cha cũng như Chúa” có quyền tha tội hay cầm giữ tội của họ v..v.., cho nên đã nhắm mắt theo lệnh của những linh mục đầy tớ của Vatican mà không ý thức được những hành động phản quốc của mình. Họ đáng thương hơn là đáng trách. Nhưng chính điều này đã chứng tỏ rằng những người “tin Chúa” hoàn toàn không có gì có thể gọi là đạo đức hơn hay tốt đẹp hơn những người “không tin Chúa” nếu không muốn nói là còn kém xa.

Cho nên, khi ông Thiện Ý viết về “nhóm Giao Điểm, một nhóm qui tụ những người vô thần..” thì thật ra ông ta đã đề cao và vinh danh nhóm Giao Điểm rồi. Và những người chống Cộng ngu ngơ cũng không biết rằng khi họ kết hợp Cộng sản với vô thần là họ đã vinh danh Cộng sản. Một khi chúng ta hiểu được Cộng sản là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế, còn vô thần là lập trường của những cá nhân đối với Thiên Chúa của Ki Tô Giáo thì sẽ không còn phạm phải lỗi lầm sơ đẳng là chống “Cộng sản vô thần” nữa.

Người vô thần đơn giản chỉ là những người không tin Chúa của những người tin Chúa. Họ chỉ không thể tin vào một Chúa mà họ biết rõ là rất ác ôn như được viết trong cuốn Thánh Kinh, và nhất là không có bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ là có sự hiện hữu của một Thiên Chúa. Nếu ngày nào đó người ta có thể chứng minh được rằng Thiên Chúa trong Kinh Thánh của Ki Tô Giáo thực sự rất mực nhân từ như giáo hội thường nhồi vào đầu óc của các tín đồ để cho họ tin mà không suy nghĩ, và Thiên Chúa đó thực sự hiện hữu với đầy đủ bằng chứng, thì người vô thần sẽ sẵn sàng tin một Thiên Chúa như vậy. Cho đến ngày đó thì sự hiện hữu của một Thiên Chúa không phải là vấn đề đáng để cho người vô thần phải quan tâm.

Mặt khác, người vô thần, tuy rằng không tin Chúa nhưng đâu có lập thành phe đảng để sát hại lẫn nhau hay sát hại người tin Chúa, như người tin Chúa đã sát hại người không tin Chúa và sát hại lẫn nhau như lịch sử tàn bạo đẫm máu của Ca-tô Rô-MaGiáo đã viết rõ?

Những cuộc tàn sát giữa những người Ki Tô Giáo

Ki Tô Giáo có ba hệ phái chính là Ca-tô Rô-MaGiáo, Tin Lành và Chính thống giáo. Ba hệ phái này cùng thờ một Chúa nhưng lại thù địch lẫn nhau, và nếu có dịp thì tàn sát nhau không hề nương tay, như lịch sử đã chứng minh. Sau đây là vài trường hợp điển hình:

1. Trong cuộc tàn sát ngày Thánh Bartholomew ở Pháp, ngày 24 tháng 8, 1572.

Lịch sử kể rằng (http://www.reformation.org/bart.html):

“Đột nhiên – không cảnh báo – tác phẩm của quỷ bắt đầu. Bắt đầu ở Paris, lính Pháp và giới chăn chiên Ca-tô La mã tàn sát những người dân không có vũ khí trong tay, và máu đổ thành sông trên khắp đất nước. Thây đàn ông, đàn bà, trẻ con chất thành đống trước bọn du thử du thực và quân lính khát máu. Trong một tuần lễ, trên 100000 người Tin Lành bị Ca-tô giáo giết. Các dòng sông trên nước Pháp có đầy thây trôi đến độ trong nhiều tháng người dân không dám ăn cá. Trong thung lũng sông Loire, những con chó sói từ những đồi cao nhào xuống ăn thây những người Pháp đã rũa nát.

Khi tin tức về cuộc tàn sát tới Vatican, Vatican hân hoan ăn mừng! Súng thần công bắn, chuông nhà thờ rung – và một loại huy chương được đúc bởi Giáo hoàng Gregory XIII (1572-85) – để kỷ niệm cuộc tàn sát đó! Giáo hoàng ủy thác nhiệm vụ cho nghệ thuật gia Ý, Varsi, sơn vẽ cảnh tàn sát trên một bức tường – ngày nay còn thấy ở Vatican.” [1]



Đồng tiền do Giáo Hoàng Gregory XIII (1572-85) đúc
để ghi nhớ sự tàn sát 100,000 tín đồ Pháp



2. Ca-tô Rô-MaGiáo và Tin Lành tàn sát lẫn nhau ở Âu Châu trong cuộc chiến 30 năm, 1618-1648, nguyên nhân chính là Hoàng đế Fernidand II muốn áp đặt Ca-tô Rô-MaGiáo trên toàn lãnh thổ và Tin Lành chống lại [Emperor Ferdinand II tried to impose Roman Catholicism on his domains and the Protestant nobles rebelled];

3. Trong đệ nhị thế Chiến, chính quyền Ca-tô Rô-MaGiáo ở Croatia đã giết trên 700000 người Chính thống [Xin đọc The Vatican’s Holocaust, Chương 4, của Baron Avro Manhattan]. Và ngày nay ở Bắc Ái Nhĩ Lan vẫn còn xảy ra những vụ Công giáo và Tin Lành giết lẫn nhau.

Cùng thờ một Chúa mà họ còn chém giết nhau như vậy, huống chi là đối với những người không tin Chúa. Trong thời cận đại, các Giáo hội Ki-tô theo đuổi chính sách nhồi sọ đàn chiên thấp kém của mình, liên kết vô thần với Cộng sản để khuyến khích tín đồ thù hận Cộng sản, coi Cộng sản như là một thù địch tôn giáo, và các tín đồ, vốn có đầu óc của các con chiên, nên cứ nhắm mắt chống Cộng một cách điên cuồng, không biết rằng lịch sử đã chứng tỏ Ca-tô Rô-MaGiáo còn tệ hại gấp bao nhiêu lần Cộng sản.

Ca-tô Rô-MaGiáo còn tệ hại gấp bao nhiêu lần Cộng sản

Thật ra thì Cộng sản đã học từ Ca-tô Rô-Ma Giáo nhưng học không đến nơi đến chốn. Nếu đối chiếu thì những hành động của Cộng sản chẳng thấm vào đâu so với những hành động của Ca-tô Rô-MaGiáo. Để che dấu sự kiện này, người Ki Tô Giáo, nhất là Ca-tô Rô-MaGiáo, sử dụng mọi phương tiện truyền thông, từ sách vở, phim ảnh, cho đến những nghị quyết vô giá trị, để thổi phồng cái mặt tiêu cực của Cộng sản, nhưng không bao giờ nhắc đến cái lịch sử ô nhục đẫm máu của Ki Tô Giáo, hi vọng biến cái lịch sử này đơn giản chỉ là một lời ghi chú (a footnote) trong những cuốn sử thế giới. Nhưng thế giới đâu có phải tất cả đều là những con chiên. Cho nên, trên Internet cũng như ngoài xã hội, chúng ta thấy tràn ngập những tác phẩm, tài liệu viết về lịch sử của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-tô Rô-MaGiáo nói riêng. Nếu không có những tài liệu này thì Giao Điểm và Sách Hiếm cũng chẳng xuất hiện trên diễn đàn truyền thông hải ngoại.



John Cornwell, một tín đồ Công giáo và cũng là một chuyên gia về Công Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the Night và Hitler’s Pope, đã viết thêm một tác phẩm về Công giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Công Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản năm 2001, trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Công Giáo (A Catholic Dark Age). Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm trọng của Công giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp. Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến linh mục, vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v..

Tình trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Công giáo, thật là thê thảm. Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục. Ở Ý, 90% theo Công giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa. Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Công giáo, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian. Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn thể lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.), nghĩa là, vô thần. Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không khá hơn. 7000 tín đồ mới có một linh mục. Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật. Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.)

Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đã trở thành “vô thần”. Cho nên, ngày nay từ “Cộng sản vô thần” chẳng nói lên được điều gì ngoài phản ánh sự đần độn của đám người cuồng tín, không theo kịp đà tiến hóa và sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

Để kết thúc, tôi xin trích dẫn vài đoạn trên Internet về đề tài “Tại sao những hữu thần lại ghét những người vô thần”

Nguồn: http://www.freethoughtpedia.com/wiki/Why_theists_hate_atheists#column-one

Đó là vì sự không tin của những người vô thần làm cho họ (những người tin Chúa) khó chịu. Những người này đã có một đức tin cấy sâu vào đời sống của họ cho nên thấy người nào không tin cũng là một sự đe dọa đối với họ. Đơn giản, họ không thể quan niệm nổi là lại có người không tin vào thần thánh. Ý tưởng này hoàn toàn xa lạ đối với họ, và do đó có tính cách đe dọa họ. Nó bắt buộc họ phải đánh giá lại những niềm tin của họ. Họ trở thành những người phải tự vệ và tấn công vì những điều mà họ tin chắc không nghi vấn là thiêng liêng thì đang bị thách thức chỉ bởi lập trường triết lý của người khác. Họ lên án những người vô thần là ích kỷ, đồi bại, và sống vô đạo đức vì không e sợ những hậu quả. Họ lên án người vô thần thiếu sót những qui tắc đạo đức. Lẽ dĩ nhiên, điều này thật là phi lý, bắt nguồn từ một sự sợ hãi thần thánh vô nghĩa. Theo một thống kê năm 1997, chỉ có 0.20%. [2 phần ngàn] tù nhân ở Mỹ là vô thần. Vì vô thần chiếm khoảng 14% dân số Mỹ, đó là một dấu hiệu về đạo đức của người vô thần hiện đại. Những người tin Chúa cuồng tín điên dại này tranh cãi với những người vô thần, biết rất rõ là họ không có hi vọng thay đổi những nhận thức lý tưởng của kẻ thù. Vậy tại sao họ lại chọn việc lao đầu vào sự tranh luận căm thù này. Vì họ giận dữ và sợ hãi. Họ giận dữ vì chúng ta có can đảm thách thức những niềm tin bắt nguồn từ sự bất an của họ bằng sự tiếp tục hiện hữu của chúng ta. Họ sợ hãi vì họ sợ mất đi vị trí an toàn của mình trên sự độc tôn thần trị của nước Mỹ (cầu nguyện trong trường học, làm luật theo tinh thần Ki-tô v..v…)… một quốc gia chính thức thế tục.

Đưa ra những lời vu khống và xuyên tạc, và coi kẻ thù như ma quỷ là phản ứng tự nhiên của sự chống đối; bất kể là chúng trái ngược với những lời dạy của Chúa và đấng cứu rỗi của họ như thế nào. Tất cả những luận điệu chống vô thần mà các bạn thấy đơn giản không gì hơn là kết quả phản ứng của tinh thần hèn hạ. Xuyên tạc, đưa ra thông tin sai lầm là dấu hiệu của thất vọng. [10]

Đôi lời kết:



Trong thời đại ngày nay, tôi nghĩ các bậc lãnh đạo trong Ca-tô Rô-MaGiáo phải có bổn phận mở mang trí óc của con chiên, không nên cứ để cho họ chìm đắm trong sự mù mờ trí thức, trong sự mê tín thần học đã lỗi thời và đã không còn mấy giá trị trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay. Tôi tin chắc rằng cũng có nhiều người trong số quý vị không còn tin nữa những lý thuyết thần học hoang đường mà khi xưa đã tạo nên niềm tin trong thế giới Ki Tô Giáo. Về các trí thức Ca-tô, tôi cũng thành thực khuyên họ trước khi viết về một vấn đề gì hãy nghiên cứu cho kỹ, đừng có viết theo cảm tính, nhất là đừng có viết ra những tín điều tín lý trong Ca-tô Rô-MaGiáo mà ngày nay đã không còn giá trị trước thế giới ở thế kỷ 21. Nếu muốn, quý vị cứ tự nhiên tin với nhau và không ai cấm đoán đức tin của quý vị. Nhưng một khi quý vị viết ra những niềm tin của quý vị dựa vào cuốn Kinh Thánh, vào những tín điều của Ca-tô Giáo thì quý vị đã thách thức sự hiểu biết hiện đại của quần chúng. Và quý vị phải chấp nhận tinh thần đối thoại phản biện trí thức. Quý vị hãy chịu khó tìm hiểu kỹ về lịch sử Ca-tô Rô-MaGiáo, lịch sử các giáo hoàng, lịch sử chính trị của Vatican, lịch sử nhân loại, và nhất là hãy đọc kỹ cuốn Kinh Thánh từ đầu đến cuối, Cựu Ước cũng như Tân Ước, để khỏi vấp phải những sai lầm nghiêm trọng mà quý vị thường viết lên như “Giáo hội Ca-tô là do Chúa thiết lập”, “Giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần”, “Linh mục là các Chúa thứ hai”, “Tiên tri của Đức Mẹ ở Fatima” v..v.. và những sai lầm rất kém cỏi như chống “Cộng sản vô thần”. Với những kiến thức đương đại, cập nhật, hi vọng quý vị có thể tự cởi trói, vứt bỏ được cặp nạng thiên chúa, hay nói theo Mục sư Harry Wilson, cất bỏ được gánh nặng thiên chúa trên vai. Khi đó, quý vị có thể trở thành một con người tự do như Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia vĩ đại nhất của nước Mỹ:





“Khi tôi tin chắc rằng vũ trụ là thiên nhiên - và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại, thì những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đã xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người tôi. Những bức tường của cái nhà tù của tôi đã sụp đổ, ngục tù tăm tối đã được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn song, gông cùm đã trở thành cát bụi. Tôi không còn là một tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà Mucsu.net: Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là người hầu việc Chúa v..v.. )Tôi đã tự do:

- tự do suy tư, phát biểu tư tưởng

- tự do sống theo ý tưởng của tôi

- tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác quan của tôi

- tự do tìm hiểu

- tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và mọi truyền thuyết man rợ của quá khứ

- tự do thoát khỏi những giáo hoàng và linh mục

- tự do thoát khỏi những sai lầm được thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh

- tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự đau đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)

- tự do thoát khỏi những ma, quỉ và thiên chúa.” [11]





Chú thích:

[1] Newsweek, p.33: The last lines read: I do not want anything to do with God. I am sick of religion. It is a crutch for the weak.. We make God into what we need for the moment. I hate God. I hate all those who try to explain God when they really don’t know.



[2] The church does not kill now because it does not have the power to kill. The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the oly weapons left her.

[3] The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.



[4] A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.

There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.

[5] La civilisation, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion, deux invasions lui sont dangereuses, l’invasion des soldats et l’invasion des prêtres. L’une menace notre mère: la patrie; l’autre menace nos enfants: l’avenir.

[6] During my lifetime I have progressed from being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist. I use the word “progress” because I believe it to be true progress to go from blind acceptance of an outdated illogical mythology to doubt and finally to denial and disbelief...

The myth itself – the Judeo-Christian Bible – is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted disregard for the lives and well-being of all peoples who do not profess a blind belief in the precepts presented in such impossible and contradictory terms.

[7] Intelligent, educated people tend to doubt the supernatural. So it is hardly surprising to find a high ratio of religious skeptics among major thinkers, scientists, writers, reformers, scholars, champions of democracy, and other world changers – people usually called great.

The advance of Western civilization has been partly a story of gradual victory over oppressive religion. The rise of humanism slowly shifted society’s focus away from obedience to bishops and kings, onto individual rights and improved living conditions. Much of the progress was impelled by men and women who didn’t pray (to God), didn’t kneel at altars (in churches), didn’t make pilgrimages (to holy places), didn’t recite creeds.

Western culture has traveled an erratic journey. Ancient Greece and Rome teamed with intellectual inquiry, amid polytheism. Then the Christian Age of Faith brought darkness for centuries. The Renaissance revived individualism and free thingking, which soared in the Age of Reason and the Enlightenment. With the flowering of science in the nineteenth century, many thinkers assumed that mystical religion would vanish. Among intellectuals, it largely has done so..

Slowly, as scientific thinking grew and religion retreated, freedom of doubt emerged in the West..

Eventually, the right to disbelieve was established. Freethought blossomed among intellectuals in Europe and America, reaching a heyday at the end of the nineteenth century and the beginning of the twentieth. Doubters such as Robert Ingersoll conducted speaking tours to challenge supernaturalism. Newspaper writer such as H. L. Mencken openly assailed “superstition”...

It is a strange contradiction: A good part of people around the globe still still worship unseen gods, and sometimes even kill for them – yet most Western thinkers, scientists, witers, and other intellectuals generally reject the supernatural.

For anyone scanning the past and surveying the current world scene, it is nearly impossible to find any oustanding person – except for popes, archbishops, kings and other rulers seeking popular support – who says the purpose of life is to be saved by an invisible Jesus and to enter an invisible heaven. But ist is easy to find many among the great who doubt this basic dogma...

[8] The first step, then, in understanding Atheism is to disregard all the lies and propaganda that religion has spread against it. Atheism is more than just the knowledge that gods do not exist, and that religion is either a mistake or a fraud. Atheism is an attitude, a frame of mind that looks at the world objectively, fearlessly, always trying to understand all things as a part of nature. It could be said that Atheism has a doctrine to question and a dogma to doubt. It is the human mind in its natural environment, nothing is too holy to be investigated, nor too sacred to be questioned. The Atheist Bible, it could be said, has but one word: "THINK." Atheism is the complete emancipation of the human mind from the chains and fears of superstition.

There is absolutely nothing negative about Atheism; truth can never be negative. The Atheist demands proof, or at least reasonable evidence, and simply rejects whatever does not meet the basic requirements of common sense. Throughout history all progress in society has come from doubting and rejecting old ideas, old customs, and old beliefs. The tree of human knowledge dies as it grows, with new growth growing out of the dead and dying parts, and replacing it with better and truer beliefs. The Theologian is an owl, sitting on an old dead branch in the tree of human knowledge, and hooting the same old hoots that have been hooted for hundreds and thousands of years, but he has never given a hoot for progress.

Morally speaking, Atheism has a great advantage over religion. The great failure of religious morality comes from their illusion of a morality above right and wrong. The religious mind has always known it is wrong to murder and torture, wrong to persecute and hate, wrong to force its beliefs upon others. Religion has always known these things are wrong, but the religious mind suffers from the illusion of a "higher morality," and because of that illusion all history runs deep with innocent blood. In the name of their "god" and a "higher morality," Christians have waged holy wars of extermination, have plundered, tortured and murdered those who could not agree with their religion, or who had never even heard of it. In the name of this "higher morality" Christians have hated, hunted, persecuted, and burned alive the "heretic," the "infidel" and the "atheist."

And today, as always, when the religious person does a thing that even he recognizes as being wrong and immoral, his illusion of a "higher power" and a "greater morality" allows him to perform some ritual, confession, or prayer, and presto, miraculously, "all his sins are taken away", and he is free again from all pains of conscience and regret.

Such foolish illusions do not comfort the Atheist mind. The Atheist knows there is no morality above right and wrong, and no escape from the pains of conscience and remorse. Murder is murder, and robbery, hate and persecution are all crimes against humanity. Morally speaking, then, history tells us it is better to be an Atheist than to be a Christian.

Religion claims that immorality always springs from a lack of religion, but the facts prove just the opposite. Christianity has never been stronger than it is today, Christians have churches in every community, they monopolize radio and television time with religious propaganda, they have forced their religion into our government, our laws, and into our schools. They have done these things against the Constitution of the United States, and against the most basic and sacred rights of all other Americans, rushed in where it was not supposed to be, where it has no business to be, silencing all opposition, all opposing views, poisoning the wells of our knowledge, and endangering the very roots of our nation.

Christianity is that strong today, and yet we have not achieved any respectable amount of morality in this country. Nowhere is the failure of Christian morality more evident than in America. During the same time that Christianity has been growing ever stronger and ever richer, over the past thirty years or so, the use of harmful drugs has became a national scandal, the crime rate has been climbing ever higher and ever faster, the divorce rate has skyrocketed, and during that time our nation has been embroiled in more wars and international conflicts than in any other similar time period in its history. Right to-day we have the highest narcotics abuse rate, the highest crime rate, the highest divorce rate, and the highest 'religion rate' that we have ever had in the history of this nation. What does Christianity say about these facts and how to cure them? They tell us we need more religion and they are determined to force it upon us. Christianity feels so strong today that it is moving into politics to try to force its failing morality upon every American through a Christian Dictatorship and a new Dark Age.

Once Atheism is achieved, and the mind has escaped entirely from the religious fears and beliefs that are put upon us from earliest childhood; and once we can look at religion objectively and impartially, it becomes entirely obvious that religion has all the characteristics of a form of insanity. To one degree or another the religious mind must accept, and believe in, another world; a supernatural or unnatural world, a world filled with all sorts of imaginary beings called gods, devils, angels, saints, demons, etc. These imaginary creatures are talked to, asked for favors, guidance, "signs," or miracles, and then blamed or thanked for natural events that follow. Except for the cloak of religion, such beliefs and actions would otherwise cause an individual to be judged insane, and committed to an institution for treatment.

The study of history will further justify the theory that religion is a form of insanity. No sane and healthy minds could have waged the bloody religious wars and crusades where the conquered were slaughtered, men, women, and children, even infants, all were put to the sword simply because they were "infidels" or "heretics." The dungeons and torture chambers of the Holy Inquisition could not have been run by sane and healthy minds. And it had to be the insane mind, the religious mind, that would tie a woman to a stake, pile wood and fagots around her and burn her alive for the impossible crime of being a witch. No sane person could read of the horrors, rape and slaughter in a savage book and call that book "the word of God." And the Jesus myth, about a god who must become a man and be murdered before he can forgive mankind, is the most insane of all.

Today, Christianity chooses to ignore, or to hide and deny, its own bloody history and to claim that it is the very foundation of our morals, and even of our civilization. Religion also claims to be our only hope and guide for the future. In view of Christian history these claims are, in themselves, sheer insanity.

[9] Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.

[10] It is the non-belief of atheists that bothers them. These people have faith so thoroughly ingrained in their lives that to see somebody without a trace threatens them. They simply cannot conceive of somebody not believing in a deity of some sort. The idea is completely foreign to them, and therefore menacing. It forces them to evaluate their own beliefs. They become defensive and attack because the things they hold intrinsically and unquestionably sacred are being challenged by the mere philosophical position of another.

They accuse atheists of leading selfish, corrupt, and immoral lives without fear of consequences. They accuse atheists of lacking moral codes. This is, of course, irrational, fear-mongering nonsense. According to a 1997 statistic, only 0.20% of prisoners incarcerated in the United States identify as atheists. Since atheists currently represent roughly 14% of the overall U.S. population, this is a significant indicator of the "morality" of the modern atheist. These rabid believers clash with atheists knowing perfectly well that they are helpless to alter the ideological perceptions of their perceived foe. Why then, do they choose to partake of this exchange of bad blood? Because they're angry and they're frightened. They're angry because we have the nerve to indirectly challenge their insecurely-held beliefs with our continued existence. They're frightened because they fear that they're losing their foothold on the theocratic monopolization of America (school prayer, Christian-oriented legislature, etc.)... an officially secular country, mind you.

Lashing out, spreading lies and misconceptions, and demonizing the enemy is a natural way to react to opposition; however contrary to the teachings of their professed lord and savior. Any anti-atheist backlash you're witnessing here is simply the result of reactionary mean-spiritedness, and nothing more. The misinformation is a sign of desperation.

[11] When I became convinced that the Universe is natural – that all the holy ghosts and gods are myths, there entered into my brain, into my soul, into every drop of my blood, the sense, the feeling, the joy of freedom. The walls of my prison crumbled and fell, the dungeon was flooded with light and all the bolts, and bars, and manacles became dust. I was no longer a servant, a serf, or a slave...I was free

- free to think, to express my thoughts

- free to live to my own ideal

- free to use all my faculties, all my senses

- free to investigate

- free to reject all ignorant and cruel creeds, all the “inspired” books that savages have produced, and all the barbarous legends of the past

- free from popes and priests

- free from sanctified mistakes and holy lies

- free from the fear of eternal pain

- free from devils, ghosts and gods

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Sự kiện Tiên Lãng và "giọt nước tràn ly"



Tác giả: GS. TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Câu chuyện cưỡng chế bằng sức mạnh để thu hồi đất khai hoang ven biển trước thời hạn giao đất vừa qua ở Tiên Lãng, Hải Phòng là một giọt nước làm tràn ly. Giọt nước này đang xẩy ra ở nhiều nơi, nhưng ở đây thể hiện nhiều điều làm mọi người ở các cương vị khác nhau phải suy nghĩ, bắt đầu từ các Đại biểu Quốc hội sẽ xem xét để thông qua Luật Đất đai mới trước năm 2013, tới các quan chức địa phương đang thực thi và kiểm tra việc thực thi pháp luật đất đai, tới người nông dân bình thường đang lo lắng về đời sống chật vật hàng ngày nhờ vào đất đai. Trong sự việc ở Tiên Lãng, một quyết định sai của UBND huyện về thu hồi đất trước thời hạn do pháp luật quy định là điểm bản lề dẫn tới những sai phạm khác. Không có quyết định này thì không có cưỡng chế và không sự phản kháng của dân trong vô vọng...


Hải Phòng thừa nhận cưỡng chế "quá tay"

Câu hỏi sau vụ chống cưỡng chế ở Hải Phòng

Vụ cưỡng chế Tiên Lãng - đỉnh điểm xung đột về đất đai

Người nông dân thường chịu đựng trước những oan trái của mình. Nhưng những con người thuần khiết nhất, sức chịu đựng giỏi nhất cũng có giới hạn. Chỉ cần một giọt nước, giọt nước cuối cùng cũng làm nước tràn khỏi ly nước, đó chính là giới hạn dẫn đến phản kháng. Việc cưỡng chế thu hồi đất luôn đóng vai trò giọt nước tràn ly. Những người chịu đựng cao thì tính tới việc hủy hoại thân mình để biểu lộ sự oan khuất. Những người quyết liệt hơn thì động viên những người cùng cảnh ngộ để cùng nhau khiếu kiện đến cùng cho đỡ đơn độc. Những người vô vọng thì thể hiện bằng những cách tiêu cực nhất trong vô vọng... Cách nhìn nhận vấn đề lúc này phải thật khách quan, công bằng và thẳng thắn, có lý và có tình. Việc xử lý cụ thể là việc nhỏ những giải quyết những vấn đề cốt lõi về đất đai, về chính quyền nhân dân mới là việc lớn.

Cái sai của quá trình giao đất, thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất so với các quy định của pháp luật

1. Từ đầu tháng 10/1993 cho tới 2005, UBND huyện Tiên Lãng đã ban hành nhiều Quyết định giao đất hoang hóa ven biển tại xã Vinh Quang cho nhiều hộ gia đình thuộc các xã kề cận để cải tạo nuôi trồng thủy sản. Thời hạn sử dụng đất được giao rất khác nhau và diện tích được giao cũng rất khác nhau, vài năm cũng có, tới 14 hay 15 năm cũng có và tới 20 năm cũng có. Diện tích đất được giao cũng rất khác nhau, từ vài ha tới vài chục ha cho mỗi cá nhân.

Theo quy định của pháp luật lúc đó, cơ chế giao đất bãi bồi ven biển căn cứ vào:

(1) Điều 50 của Luật Đất đai 1993 "Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định";

(2) Quyết định số 773-TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng, trong đó Điều 13 quy định hạn mức giao đất là từ 2 đến 10 hécta;

(3) Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 về việc ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, trong đó thời hạn sử dụng đất là 20 năm (nếu đất được giao từ ngày 15/10/1993 trở về trước thì thời hạn được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993, nếu đất được giao sau ngày 15/10/1993 thì tính từ ngày giao).

Như vậy các Quy định giao đất của Tiên Lãng có biểu hiện tùy tiện về cả thời hạn lẫn hạn mức diện tích. Theo đúng pháp luật thì thời hạn là 20 năm và hạn mức cho hộ gia đình là từ 2 tới 10 ha. Vậy thì việc thực thi pháp luật căn cứ vào pháp luật của Nhà nước hay căn cứ vào Quyết định của huyện. Ai cũng biết rằng phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước.

Ngôi nhà 2 tầng bị phá hủy


2. Hết thời hạn, các hộ gia đình đều nhận được Thông báo của UBND huyện dừng đầu tư sản xuất nuôi trồng thủy sản trên diện tích đất được giao. Sau khi ban hành Thông báo, UBND huyện ban hành Quyết định thu hồi đất căn cứ vào Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai (Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn).

Vì việc thu hồi đất xẩy ra sau ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành (01/07/2004) nên phải căn cứ vào Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai. Khoản 1 Điều 34 của Nghị định 181 quy định rằng khi hết thời hạn sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn đã quy định (20 năm), trừ các trường hợp: (1) Nhà nước có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; (2) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; (3) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; (4) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; (5) Đất không được sử dụng liên tục trong thời hạn quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hàng năm, 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm, 24 tháng đối với đất trồng rừng). Lưu ý rằng, quy định tại Khoản 1 Điều 34 không trừ trường hợp hết thời hạn quy định tại Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai mà UBND huyện Tiên Lãng lấy làm căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất. Như vậy quyết định thu hồi đất căn cứ vào Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai là hoàn toàn trái pháp luật.

3. Các hộ gia đình bị thu hồi đất bắt đầu thực hiện khiếu nại hành chính và khởi kiện hành chính, Tòa án Huyên Tiên Lãng đã xét xử sơ thẩm và tuyên UBND huyện thắng kiện. Các hộ gia đình lại khởi kiện lên tòa án thành phố Hải Phòng để được xét xử phúc thẩm. Tòa án thành phố yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng và các hộ gia đình hòa giải, hai bên đã hòa giải theo Biên bản với nội dung là các hộ gia đình rút đơn kiện và UBND huyện sẽ làm thủ tục theo quy định của pháp luật nếu các hộ có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đai. Trên thực tế, UBND huyện không thực hiện theo Biên bản này mà tiếp tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất. Việc thực hiện cưỡng chế thu hồi đất bằng lực lượng vũ trang đã diễn ra và sự chống đối của người dân cũng đã diễn ra.

Điều quan trọng cần rút ra ở đây là nếu không có các Quyết định sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất thì cuộc sống của người nông dân ở đó vẫn bình lặng, lực lượng vũ trang của huyện cũng đỡ vất vả. Việc thu hồi đất sản xuất giao cho hộ gia đình nông dân trước thời hạn 20 năm là một cái sai "tầy đình".

Vấn đề quyết định thế nào đối với thời hạn sử dụng đất sản xuất nông nghiệp khi hết thời hạn 20 năm đã được xem xét tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2002), chưa quyết định được và để lại để giải quyết trước thời điểm thời hạn sớm nhất kết thúc là 15/10/2013. Nội dung quan trọng này cũng sẽ được Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa này quyết định vào thời gian tới và cũng là nội dung quan trọng của Luật Đất đai mới sẽ được Quốc hội thông qua trước năm 2013. Vấn đề lớn như vậy mà huyện Tiên Lãng coi như chuyện "vặt", làm sai hết. Tôi có cảm giác như huyện Tiên Lãng không biết địa phận của mình đang nằm trong lãnh thổ Việt Nam.

Nói gì từ những sự việc áp dụng sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng

1. Việc áp dụng sai pháp luật đất đai không phải chỉ ở UBND huyện mà ở cả Tòa án nhân dân huyện. Hơn nữa, những luận cứ đưa ra trong áp dụng pháp luật theo kiểu "không trung thực", kể cả luận cứ của Tòa án nhân dân huyện trong xét xử sơ thẩm. Ở đây cho thấy, khó có thể đạt được tính độc lập của Tòa án cấp huyện khi xử các vụ kiện hành chính đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của UBND cấp huyện. Tòa án thành phố cũng giải quyết nửa vời bằng cách cho thương thảo lại. Đáng nhẽ, khi thu lý vụ án thì Tòa án thành phố phải hiểu ngay những sai trái của chính quyền đang diễn ra, sai không chỉ pháp luật mà còn quyết định trước cả những vấn đề mà Trung ương Đảng chưa quyết định.

2. Nhiều cơ quan hành chính ở địa phương có quan niệm rất sai về cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Đã có rất nhiều ý kiến phản ảnh rằng các cán bộ thừa hành ở cấp huyện hay nói "Nhà nước có quyền muốn thu hồi đất của ai thì thu". Đây là một cách nói rất sai, làm mất uy tín của Nhà nước ta. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất được áp dụng theo quy định của luật pháp, chỉ được thực hiện trong những trường hợp nhất định và khi thực hiện phải tuân thủ trình tự, thủ tục rất rõ ràng. Các cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ được áp dụng thẩm quyền theo quy định của luật pháp, không thể "dọa dân" bằng quyền lực thu hồi đất "vô biên" như vậy.

Hải Phòng cũng thừa nhận đã “cưỡng chế quá tay” vụ thu hồi đầm của Đoàn Văn Vươn.


3. Theo những nghiên cứu về các nguy cơ tham nhũng trong quản lý đất đai ở nước ta hiện nay, cơ chế Nhà nước thu hồi đất chứa các nguy cơ tham nhũng cao nhất. Đằng sau quyết định thu hồi đất là quyết định sẽ giao đất đó cho ai? Về bản chất, quyết định thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định lấy đất của người này giao cho người khác. Đằng sau quyết định hành chính này thường chứa chất những mối quan hệ kinh tế phức tạp, dễ gắn với tư lợi của người có thẩm quyền, của cơ quan có thẩm quyền. Vậy thì ai sẽ là người chờ phía sau của quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng để chờ được giao đất đã thu hồi của dân. Theo quy hoạch thì đất nuôi trồng thủy sản ở đó vẫn để nuôi trồng thủy sản. Đáng lẽ thì UBND huyện phải tạo điều kiện hỗ trợ nhiều hơn cho người dân đã có công khai phá để nâng cao năng suất và sản lượng. Không làm được vậy thì thôi, đừng làm đảo lộn người sử dụng đất mà tạo nên sự bất ổn định trong Tam Nông.

4. Việc sử dụng lực lượng vũ trang để cưỡng chế thu hồi đất là một biện pháp không hay, các địa phương không nên áp dụng. Việc áp dụng cơ chế thu hồi đất luôn luôn là mối quan hệ giữa chính quyền của nhân dân và nhân dân. Nguyên tắc thuyết phục và đồng thuận, tận dụng sự tham gia của cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu. Lực lượng vũ trang có nhiều việc hệ trọng phải tập trung vào làm.

5. Hệ thống kiểm tra của cơ quan hành chính đối với các cơ quan trực thuộc ở ta còn rất kém. Hệ thống giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân ở ta cũng rất yếu. Mọi việc diễn ra ở Tiên Lãng cho thấy rõ điều này. Một việc sai phạm pháp luật về đất đai đến như vậy, ý kiến oan trái của cả một tập thể nông dân nhiều đến như vậy mà không thấy xuất một hình bóng nào của công tác kiểm tra và giám sát.

6. Chính quyền phải giữ chữ "tín" với dân, không thể thỏa thuận với dân một đằng rồi lại làm một nẻo. Vật chất có thể mua được nhưng lòng dân không bao giờ mua được. Dân tin khi những người thay mặt cho chính quyền giữ đúng chữ "tín" trước với dân. Hãy cho dân trước rồi mới lấy đi của dân.

7. Vấn đề đất đai cho nông dân không hề đơn giản. Trong chế độ thực dân, phong kiến, người nông dân trực tiếp sản xuất không có ruộng, phải làm thuê, cuốc mướn, cấy rẽ. Người nông dân đã bị phong kiến, đế quốc bần cùng hóa để phải rời bỏ ruộng vườn. Hầu hết nông dân đã lên đường làm cách mạng vì một mục tiêu rất giản dị: có ruộng để cầy. Người nông dân Việt Nam ít được học nhưng sống luôn có đạo lý, biết hy sinh và cũng biết phẫn nộ.

8. Động viên tốt, người nông dân đã từng nhịn ăn để nuôi các chiến sỹ cách mạng, đã từng đem giường ngủ ra lát đường cho xe ra tiền tuyến, đã từng hiến đất để làm trường học, mở bệnh viện, v.v. Họ hy sinh cả vật chất và tinh thần rất vui vẻ. Những người nông dân đa số là chịu đựng mặc dù biết rằng oan trái. Việc người nông dân oan trái trong mất ruộng đất đang xẩy ra ở nhiều nơi. Đừng coi câu chuyện này đơn giản, xem xét một chiều, vô cảm.

9. Việc động viên các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia khai hoang, phục hóa, lấn biển là một chính sách lớn của Nhà nước. Cần có nhiều ưu đãi đối với những ai làm tốt việc này. Cái ưu đãi lớn nhất đối với người nông dân là hãy để cho họ ổn định làm ăn khi họ đang sử dụng đất có hiệu quả. Nếu Nhà nước cần đất hãy tính đến chuyện lấy đất ở những nơi đang sử dụng không hiệu quả. Khai khẩn, thuần dưỡng đất hoang hóa là công việc rất nặng nhọc. Trên từng thước đất có mồ hôi, nước mắt và có cả máu của người nông dân nữa. Chúng ta đừng dửng dưng với việc này mà phải hiểu hơn nữa người nông dân mới hy vọng làm cho tam nông tốt lên được.

Vài lời kết

Có thể coi sự việc vừa qua ở Tiên Lãng là đỉnh điểm của những bất cập về cả pháp luật đất đai và việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương. Một người nông dân tốt, thuần chất, ham lao động mà phải bảo vệ quyền lợi đất đai của mình bằng vũ khí tự tạo thì quả là cùng cực. Con người ai cũng tin vào công lý và tin vào công lý đó được pháp luật bảo vệ. Những người nông dân khai phá đất nuôi trồng thủy sản ở Tiên Lãng chắc chắn cũng tin như vậy. Rồi tới tòa án, nơi rất công bằng, mà những chân lý giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình trong vô vọng...

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Cái sự hèn và nỗi uất nghẹn của đớn đau…


Hà Văn Thịnh


Chưa có năm nào mà mở đầu một năm mới (2012), tính đến hôm nay là 10 ngày (10.1.2012) mà cái đầu và trái tim của người dân Việt bị thử thách nhiều đến như thế, bị giày vò thảm thê đến thế trước những tai ương, những câu chuyện còn hơn cả buồn và những nhức nhối, để dẫu có muốn làm thinh cho khỏi mang tiếng “diễn biến” hay “bị xúi giục” thì vẫn phải mở mồm rên lên, khóc lên cho vợi bớt cái nhục nhã của thân phận làm người…

Đầu tiên là chuyện cháy xe và quan chức cứ sống chết mặc bay cho đến khi báo chí, dư luận la hét vang trời mới đủng đỉnh nhận cho gọi là… có. Tiếp đó là đọc ở đâu, xem cái gì cũng “năm 2020”(!) Nào là đến năm đó có mấy chục ngàn tiến sĩ, nào là lạm phát bằng không, nào là “kiểm soát về cơ bản vệ sinh an toàn thực phẩm”… Hứa lèo cho qua hai nhiệm kỳ thì ai mà không hứa được? Nếu nói rằng đến 2020, không còn thực phẩm thối thì liệu đến ngày đó, sức khỏe giống nòi sẽ ra sao, văn hóa đạo đức suy đồi đến mức nào?…Độc, đau, đắng, đểu là “bốn Đ” xin gửi tặng cho ông LDH và các bộ tứ khác đang tồn tại trên trái đất này, chẳng hạn như 4 biết, 4 chịu, 4 tốt (láng giềng tốt, đồng chí tốt…), 4 vàng (4 nhân 4 thành 16 chữ vàng – Sơn thủy tương liên, vận mệnh tương quan)…

***

Có một câu hỏi tôi luôn nghĩ từ nhiều năm nay nhưng SỢ chẳng dám nói ra bởi biết chắc là sẽ bị ném đá tơi bời – thậm chí là bị vùi cho thân tàn ma dại. Đó là câu hỏi người Việt có anh hùng bất khuất thật hay không? Đành rằng vì không biết nên phải hỏi, nếu có sai thì các bậc thức giả, nhà cầm quyền có lẽ cũng chẳng trách đâu nhưng nỗi sợ nó ngấm vào máu, nó cuộn đắng trong tim nên mới để mãi đến bây giờ. Một trong những danh ngôn mà tôi thích nhất là câu nói của tổng thống bị bại liệt hai chân F. D. Roosevelt nói trong lễ nhậm chức năm 1933: “Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ chính là bản thân nỗi sợ” (The only thing we have to fear is fear itself). Quả thực, trong mấy ngày qua, không ngày nào tôi không muốn viết nhưng bạn bè – người thân cản ngăn nhiều quá, cho đến lúc này, sau khi đọc thông tin đã tương đối, mới dám cố gắng đặt nỗi sợ sang một bên và… viết.

Trước hết, hãy liếc qua lịch sử Triều Tiên: Điều nhiều người biết nhưng ít người nói là trong suốt 1.117 năm Việt Nam bị Bắc thuộc, người Triều Tiên chỉ bị Trung Quốc đô hộ có vài chục năm – lần thứ nhất từ 108 đến 82 B.C. (thời Hán) và lần thứ hai từ năm 668-676 (thời Đường). Đó là điều đáng để ngẫm suy. Và, cũng nên nhấn mạnh rằng, trong 1.117 năm đau đớn ấy, nhân dân Việt Nam chỉ nổi dậy khởi nghĩa có tất cả 12 lần lớn, nhỏ: Năm 111 B.C. là khởi nghĩa (đầu tiên) của Tây Vu Vương, năm 40-43 là Hai Bà Trưng, khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 157), của Bà Triệu (năm 248), của Lý Trường Nhân (468-485), của Lý Bí (542 – 548), của Triệu Quang Phục – Lý Phật Tử (năm 547 – 602), của Lý Tự Kiên và Đinh Kiến (năm 687); của Mai Thúc Loan (năm 722); của Phùng Hưng (766-791), của Dương Thanh (819-820), Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Kiều Công Tiễn, Ngô Quyển (905-938). Như vậy trung bình cứ 92 năm thì khởi nghĩa 1 lần!

Mức độ và “tần số” của những cuộc khởi nghĩa đó nói thẳng, rõ ràng với chúng ta rằng đừng có tôn vinh sự quật cường thái quá bởi không có sự vượt trội so với nhiều dân tộc khác (nếu không muốn nói là chưa bằng) thì không thể luôn luôn huyễn hoặc mình. Tất nhiên, đây là công việc của các cây đa cây đề sử học mà người viết bài này chỉ muốn lướt qua để nói về nỗi đau hiện tại có nguồn cội từ yếu hèn.

Nếu không hèn yếu cớ sao không ít quan tham ngu dốt cứ nói, cứ làm mà hàng triệu người vẫn cúc cung tận tụy trong lặng câm? Nếu không bị ảnh hưởng bởi hơn 1.000 năm với kiếp cúi luồn thì tại sao bây giờ chúng ta (kể cả người viết bài này) lại sống trong sợ hãi: Không dám nói về những điều sai, trong khi cái sự thật cứ rành rành?… Rất và rất nhiều câu hỏi chỉ có một sự trả lời duy nhất – chúng ta không dám sáng tạo (phản biện, chống lại cái ác là sự sáng tạo của tỉnh thức, sự lung linh của trái tim, sự hy vọng của nhân cách), chúng ta khiếp sợ bạo lực, cường quyền nên càng ngày, chúng ta càng lún sâu hơn vào vũng bùn tối tăm của nhận thức, dò dẫm sống, lắt lay tồn tại bằng sự đui mù của tư duy.

Có rất nhiều dẫn chứng nhưng, có lẽ, bài học từ Tiên Lãng là đủ đầy nhất. Tôi xin lấy ví dụ từ chính cái mới nhất và đau nhất này. Một, tại sao người dân, kể cả người có học, lại dễ bị lừa đến thế khi nghe chính quyền (thật ra là quyền lực bị lộng hành bởi vài cá nhân nhân danh chính quyền) rút đơn về để họ dễ bề… cưỡng chế! Chỉ cần biết cái kiến thức tối thiểu rằng đất đai đang tranh chấp thì không thể cưỡng chế như luật pháp đã quy định thì phải hiểu ngay lập tức rằng rút đơn khiếu nại (kiện tụng) về, đồng nghĩa với tự đút đầu vô thòng lọng. Hai, chính quyền của “vua anh” (chủ tịch huyện) cưỡng chế trên đất của “vua em” (chủ tịch xã) là cái loại cơ cấu gì mà không cần học cũng hiểu ngay bản chất của vấn đề. Ba, nhà không thuộc diện bị cưỡng chế, vẫn bị đập tan tành: Phá hoại tài sản công dân trắng trợn như thế mà vẫn nhởn nhơ được sao? Thì ra không cần luật pháp, ưa chi làm nấy là cái thực của xã hội bây giờ sao? Tại sao càn rỡ như thế mà không bị cách chức, đuổi việc ngay lập tức? Bốn, đất đai người ta bỏ cả máu, nước mắt, mồ hôi và tiền của ra để lấn biển, không khen, không ưu đãi thì chớ, lại còn ngang nhiên tịch thu (cướp giật) ngay giữa ban ngày là cái lý nào đây? Năm, cái sai của gia đình ông Vươn là rành rành, luật pháp không thể dung thứ nhưng cái căn nguyên, nguồn cội của sự phẫn uất là lý giải được theo cái nghĩa hẹp nhất của cụm từ bước đường cùng. Lửa và Khói là mối quan hệ nhân quả nhãn tiền. Vậy, ở đây phải làm rõ tội của AI nặng hơn: Kẻ càn rỡ nhân danh luật pháp hay người dân trong phận con giun bị xéo giày tức tưởi?…

Nhiều và rất nhiều nữa những điều phải nói, sẽ nói về chuyện Tiên Lãng. Đây là lúc những người có trách nhiệm phải cẩn trọng vì một tia lửa hay một ngọn lửa chỉ khác nhau về mức độ mà thôi còn thực tế, chúng bao giờ cũng là điểm khởi đầu của đám cháy. Không thể chỉ trừng phạt một phía vì nguyên tắc của công lý là sai đến đâu phải xử ngay đến đấy. Đến đây, chợt thấy buồn nẫu cả ruột gan: Vì lâu nay chúng ta đều “đồng thanh” lặng câm (khuyên bảo nhau lặng im) nên sự càn rỡ ngày càng trắng trợn, vì lâu nay người ta đánh giá sự phản kháng của người dân quá thấp nên cứ việc hành xử bất kể đúng sai. Thật ra, cái tốt nhẫn nhục mới là tội ác ghê gớm hơn cả tội ác từ cái xấu. Martin Luther King đã nói đại ý như thế.

Chúng ta phải đòi công lý thực thi theo đúng lẽ ai sai đến đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó. Đây là nguyên tắc, ít nhất, nó chứng tỏ rằng đôi khi người Việt cũng còn nhớ đến tinh thần bất khuất…



Huế, 13.1.2012

H. V. T.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Dòng Tên - Thánh Phanxico Xavie, Cố Đạo Đắc Lộ và chữ Quốc ngữ


Charlie Nguyễn

"Ai chơi dao sẽ chết vì dao" (Lời thật của Jesus).

Dòng Tên là một dòng tu đặc biệt của Công Giáo La Mã (CGLM) mang tên Chúa Jesus. Từ căn ngữ tên của Chúa, các tu sĩ dòng Tên được gọi là Jesuits. Đặc tính của các tu sĩ dòng Tên là cực kỳ hung hăng hiếu chiến như những tên lính xung kích trong công tác phá hoại các tôn giáo khác và chống các chính quyền không tuân phục La Mã. Do đó, dòng Tên được La Mã đặt tên là Đạo Binh Của Giáo Hội (The Church Militant), Đoàn Quân của Chúa Jesus (The Company of Jesus). Kẻ lập ra dòng Tên là Ignatius de Loyola, được mệnh danh là "thiên tài của quỉ Satan" (a Satamic genius). Y đã lập ra một đạo quân tu sĩ (an army of priests) tuyệt đối trung thành với Giáo Hoàng La Mã dưới những kỹ luật đặc biệt được cam kết bằng máu. Chẳng bao lâu, dòng Tên đã trở thành một lực lượng tôn giáo có sức công phá khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân lọai. Đến nổi Tổng Thống Abraham Lincoln (Hoa Kỳ) cũng phải khiếp sợ và gọi nó là "đám mây đen".





Ignatius de Loyola


Link: http://en.wikipedia.org/wiki/Ignatius_of_Loyola




Dòng Tên là một thành trì vững chắc của Giáo hội Công giáo gồm toàn các thành viên từ trình độ trí thức thông thường đến trình độ đại trí thức, bao gồm nhiều nhà bác học phát minh về nhiều lãnh vực khoa học. Vì vậy, văn hào Pháp Voltaire vào năm 1761 đã tuyên bố: "Chỉ khi nào phá được dòng Tên thì mới phá được cái đạo ác ôn (Công Giáo)". Những tu sĩ trí thức Công Giáo cuồng tín này có cùng một tác phong với những trí thức Tin Lành cuồng tín là Khu-Klux-Klan. Chẳng khác nào "Đạo quân hàng đầu của tử thần" (Death's Head Legions) của SS Đức Quốc Xã, rất hợp khẩu vị của tên trùm sát nhân Himmler, đến nỗi Himmler đã gọi những thủ hạ của y là "những Ignatius Loyola của chúng tôi".Mọi tự điển trên thế giới đều có chung một định nghĩa về danh từ Jesuit (tu sĩ dòng Tên) là: người ngụy biện, giả nhân giả nghĩa, kẻ xảo trá phản phúc. Ngoài ra, trong tác phẩm "German Thesaurus" xuất bản năm 1954, tác giả Đức Dornseif đã viết: "Jesuit contains a long list of synonyms, including: two faced, false, insidious, dissembling perfidious, mendacious, sanctimonious, dishonarable, incincere, dishonest, untruthful..." (Danh từ Jesuit - tu sĩ dòng Tên - bao gồm một danh sách dài của những tiếng đồng nghĩa: hai mặt phản trắc, gian trá, gieo rắc độc hại, gây chia rẽ, lừa lọc, nói dối, thương xót giả tạo, không biết trọng danh dự, thiếu thành thật, bất lương, chẳng bao giờ nói thật... . . .) Người Pháp có câu cách ngôn rất hay: "Khi nào có hai tu sĩ dòng Tên đi với nhau, luôn luôn tạo thành ba thằng quỉ sứ" (Where two Jesuits come together, the devil always makes three). Người dân Tây Ban Nha, nghèo hơn các dân Âu Châu khác, rất đau xót vì thường bị những tu sĩ dòng Tên lừa đảo để bòn rút tiền bạc của họ. Vì vậy, người Tây Ban Nha có câu tục ngữ còn "độc" hơn câu tục ngữ của Pháp nói trên : "Đừng trao vợ cho thầy dòng, cũng đừng trao tiền cho những Jesuits" (Don't trust a monk with your wife, or a Jesuit with your money).

Loyola đã ra lệnh cho dòng tu của y một huấn lệnh nghiêm ngặt: "Dòng tu của chúng ta không bao giờ để mình không bị quấy rối trong thời gian lâu dài bởi sự thù nghịch của thế giới" (Our order may never be left untroubled by the hostility of the world for very long).Người sáng lập dòng Jesuit là Ignatius de Loyola Recaldo sinh năm 1491 tại tỉnh Guipuzcoz, Tây Ban Nha, phục vụ nhiều năm trong quân đội Tây Ban Nha với cấp bậc đại úy nhưng có tham vọng lên tướng. Cuộc đời trận mạc đã biến y thành một thương phế binh bất mãn. Y có vợ con nhưng nghèo khổ nên càng thêm bất mãn hơn nữa. Tuy vậy, với bản chất cực kỳ hung bạo, say mê mạo hiểm thích lao đầu vào các cuộc chinh phục với những ước vọng quá lớn. Y quyết tâm gồng mình vươn lên thành ngọn tháp của lòng kiêu ngạo.

Quyết tâm của y xảy ra đúng vào thời kỳ giáo hội Công Giáo La Mã đang lâm vào tình trạng tan rã do nạn ly-giáo (bỏ Giáo hội) của nhiều giáo phái Tin Lành, dưới triều đại Paul III (1534-1549). Đang lúc giáo hoàng lâm vào tình trạng vô cùng bối rối thì Loyola xuất hiện như một vị cứu tinh của giáo hội. Loyola trình lên giáo hoàng Paul III một kế hoạch chống nạn ly giáo bằng cách "lập đoàn quân gián điệp gồm toàn các tu sĩ trí thức cuồng nhiệt cài vào tận trái tim cuả các giáo hội ly khai. Từ nay trong nội bộ các giáo hội ly khai đó, các tu sĩ gián điệp sẽ tìm đủ mọi cách, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể các việc ám sát các thủ lãnh ly giáo để làm tê liệt và cuối cùng sẽ tiêu diệt hoàn toàn các giáo hội ly khai này". Loyola đưa ra đề nghị phải huấn luyện các tu sĩ của y thành những nhà trí thức thật giỏi về đủ ngành, từ triết học, luận lý, siêu hình học, tâm lý học, thôi miên, thần giao cách cảm (telepathy), ảo thuật, kỹ thuật gián điệp v.. . v. . Ngoài ra, các tu sĩ dòng Tên phải am tường Kinh Thánh, phải luyện tài hùng biện, có khả năng lươn lẹo thật tài tình để giải thích Kinh Thánh sao cho có lợi về phía Tòa Thánh để chống lại mọi sự khích bác của những kẻ thù của Giáo hội.





Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_ho%C3%A0ng_Phaol%C3%B4_III



Kế sách của Loyola được GH Paul III nhiệt liệt tán thưởng. Từ một đại úy thương binh, y được giáo hoàng phong lên cấp Đại tướng Tổng Chỉ Huy đoàn quân gián điệp của tòa Thánh vào năm 1541.Theo tác phẩm The Jesuits - History and Legend of The Society of Jesus" (Quil Willians Morros. NY. 1984) tác giả Manfred Barthel cho biết thêm: Cái nguyên nhân trực tiếp đã khiến cho Ignatius Loyola phải đưa ra kế hoạch lập Dòng Tên ghê gớm đó cho GH Paul III là vì chính lúc đó y đang bị tòa Hình Án Tây Ban Nha (Spanish Inquisition) ra lệnh truy nã. Y quá sợ sẽ bị đưa lên giàn hỏa như con chó thui nên vội vàng tìm cách chạy trốn qua Rome dâng lên giáo hoàng kế sách cực độc để mong giáo hoàng đặc biệt lưu tâm ngõ hầu y có thể được Tòa Hình Án Tây Ban Nha tha mạng. Sau khi kế sách của y được giáo hoàng chấp thuận và phê chuẩn dự án thành lập dòng Tên, y vội vàng về trình lại sự việc cho tòa Hình Án Tây Ban Nha. Tòa án tôn giáo nổi tiếng sát nhân kinh khiếp này vẫn không chịu tha Ignatius Loyola một cách dễ dàng. Tòa này buộc y phải cam kết thi hành mọi giao ước với Tòa thánh và y chỉ được tha mạng khi các nhiệm vụ tôn giáo của y được thực hiện hoàn toàn. Y không thể làm điều gì khác hơn là ký giấy cam kết với tòa Hình Án. Sau đó, Loyola được cấp tiền theo học 7 năm tại đại học Sorbonne - Paris, Pháp quốc - để có đủ tư cách là một chiến sĩ trí thức chỉ huy đoàn quân trí thức hung bạo hiểm độc của Giáo Hội Công Giáo.Dòng Tên của gã đại gian manh Loyola được thành lập ngày 15.8.1534, dưới danh hiệu là "Hiệp Hội Jesus" (The Society of Jesus), được long trọng làm lễ ra mắt tại nhà thờ trên đồi Montmartre (Pháp).

Từ đó, dòng Tên trở thành xương sống của Giáo Hội CGLM. Đường lối của dòng Tên được xây dựng trên nguyên tắc Trầm Tư Siêu Việt (Transcendental meditation) phối hợp với đủ thứ môn học cao cấp nhất của Âu Châu lúc đương thời. Năm 1949, GH Pius XII ra lệnh cho dòng Tên phải chú ý nghiên cứu về các môn học mới như Cổ sinh vật học (Paleontology) môn khảo cổ học (Archeology) Văn minh học v.v.. Nói tóm lại là phải trang bị cho các tu sĩ dòng Tên cái vốn trí thức uyên bác để sẵn sàng bảo vệ giáo hội trong thời đại mới.Tòa Thánh La Mã còn ra lệnh cho các nhà hóa học của giáo hội cải tiến chất bột trắng giết người (the lethal white powder) thành một chất độc giết người có điều kiện. Đó là chất độc được đặc chế để nhét vào chân răng của các tu sĩ dòng Tên. Chất độc mang tên "Lentulo" được các nha sĩ Mafia của Tòa Thánh bí mật khoan răng, nhét chất độc vào rồi dùng men sứ trám lại. Chất "lentulo" biến các tu sĩ dòng Tên thành các chiến sĩ cảm tử theo kiểu "Suicide-bombs" của các giáo phái Hồi Giáo cực đoan.

Các tu sĩ dòng Tên chỉ có một con đường trước mắt là phải tiếp tục chiến đấu hoặc phải chết. Mọi tu sĩ phản bội đều bị các nha sĩ Mafia của Vatican bí mật bơm một chất kích động có tác dụng làm cho độc chất lentulo tan dần vào máu, toàn bộ óc bị tê liệt, nạn nhân chết dần chết mòn trong âm thầm lặng lẽ mà không để lại một dấu vết nào. Không một bác sĩ khám nghiệm nào có thể tìm ra nguyên do cái chết của nạn nhân ngoài các bác sĩ Mafia của Tòa Thánh. Các điều bí mật trên đã được tiết lộ bởi nạn nhân (chết hụt) là linh mục tiến sĩ Alberto Rivera với các tác phẩm của ông như The Godfathers, Duble Cross, The Force, Exorcists và The Crusaders. Link:http://en.wikipedia.org/wiki/Alberto_Rivera

Năm 1537, dòng Tên được Vatican giao trọng trách đánh phá các giáo phái Tin Lành.Năm 1541, chức vụ bề trên cao nhất của dòng được đổi thành "Bề Trên Cả" thay vì chức "thống tướng."Năm 1550, bản Hiến Chương của dòng Tên được ban hành xác nhận nhiệm vụ "đi khắp thế gian rao tin mừng của Chúa và dùng mọi phương tiện có thể đạt mục tiêu dưới sự phù hộ của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi các linh hồn (phải lìa khỏi xác)".Kết quả là "các tu sĩ dòng Tên đã bắt cóc và làm đổ vở nhiều quốc gia. Họ đã gây chiến và mưu sát nhiều vua chúa và tổng thống, trong đó có Abraham Lincoln (The Jesuits have captured and broken nations. They have started wars and murdered kings and presidents, including Abraham Lincoln - Theo cuốn Fifty Years in Church of Rome, Chick publications).

Dòng Tên là một công cụ tinh vi nhất của Vatican để thực hiện chủ nghĩa đế quốc tinh thần (Spiritual Imperialism). Trung Nam Mỹ Châu là sân khấu lịch sử thể hiện rõ nét nhất cái gọi là "Sự kinh hoàng thánh thiện" (Holy Terror) của dòng Tên. Nhất là dòng Tên của Tây Ban Nha, một dân tộc ham mê môn đấu bò không phải vì ham mê thể thao mà chỉ vì màu đỏ huyết dụ của máu mới đủ sức gây khoái cảm cho bản chất bạo dâm tinh thần của họ. Sự xuất hiện của dòng Tên, nói chung, là một nghịch lý lớn của lịch sử giáo hội Công Giáo La Mã. Nói là mang "Phúc âm" đến những nơi dã man mọi rợ, thực tế cho thấy họ chỉ mang tai họa của âm ti đến mọi quốc gia ngoại đạo bằng những phương cách dã man mọi rợ hơn ai hết. Nghịch lý thứ hai là dòng Tên hội tụ đông đảo số trí thức cao cấp của Gíao Hội Công Giáo La Mã tại Âu Châu. Chúng ta thật không hiểu nỗi tại sao họ lại có thể mù quáng tự trói buộc mình vào những lời thề độc địa như "Nếu giáo hội bảo tôi màu trắng là đen thì tôi sẽ trả lời vâng, đó là màu đen" (If the church tells me that white is black. Yes, that is black). Họ hy sinh mạng sống để tự đặt mình dưới sự xử dụng của giáo hoàng. Họ hãnh diện được thiên hạ nghĩ về họ như những chiến sĩ tiền phong của giáo hoàng (the pope's vanguards) hoặc như đoàn quân lê dương số một (the first legions). Họ tôn xưng giáo hoàng không phải là vị lãnh đạo anh minh của một giáo hội lành mạnh mà là một vị tướng quân tối cao (a superior general) của một đế quốc xâm lược ngụy trang là tôn giáo. Không có một tổ chức nào có thể đưa ra những khẩu hiệu quái gở như dòng Tên, chẳng hạn như "PERINDE AC CADAVER" nghĩa là Tôi không muốn gì hơn là chính cái xác chết của tôi. (I have no more will of my own than a corpse)..

Vào thời đại của Sự Soi Sáng (The age of Enlightement) thế kỷ 18-19, các tu sĩ dòng Tên bị hầu hết các nước Âu Châu lên án và tẩy chay. Otto von Bismarck (1815-1898) vị "thủ tướng thép" (the Iron Chancellor) của nước Đức đã trục xuất toàn bộ các tu sĩ dòng Tên ra khỏi nước Đức. Chính quyền Thụy Điển ra lệnh cấm chỉ mọi hoạt động của dòng Tên, đóng cửa tất cả các trường học do dòng này điều khiển trên đất nước họ. Tuy vậy, tại các quốc gia không có chính quyền vững mạnh, dòng Tên vẫn tiếp tục tác oai tác quái lũng đoạn chính quyền không từ một thủ đoạn tàn ác nào như bắt cóc, khủng bố, gây chiến và ám sát các vị nguyên thủ quốc gia nào không chịu hợp tác với họ. Trải qua trên 400 năm lịch sử của dòng Tên, hầu hết các quốc gia Tây phương đều bị dòng này khuynh đảo lật đổ chính quyền, chỉ ngoại trừ nước Mỹ mà thôi. Họ chủ trương cả thế giới phải trở thành "Công Giáo" theo đúng nghĩa của danh từ La Tinh "Catolica" (universal church) có nghĩa là Giáo Hội Toàn Cầu thống thuộc đế quốc La Mã cả phần hồn lẫn phần xác.Chủ thuyết xây dựng một siêu cường tôn giáo đã được xác định trong lời thề của các tu sĩ dòng Tên: "Đức giáo hoàng là đại diện của Chúa Jesus. Chúa ban cho Ngài quyền năng truất phế các vua chúa của mọi quốc gia. Dù có được bầu chọn, các nguyên thủ quốc gia đều là những kẻ cai trị bất hợp pháp. Mọi lãnh đạo quốc gia không chịu các phép bí tích của Chúa sẽ đều bị tiêu diệt. Trong mọi trường hợp, con (tu sĩ khấn vào dòng) sẽ tạo ra chiến tranh nếu có cơ hội và sẽ tham chiến chống lại mọi kẻ dị giáo (heretic : a person who holds unorthodox opinion). Khi được lệnh, con sẽ tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên này trên khắp mặt địa cầu..."Ngay từ năm 1556 là năm Ignatius chết, các đứa con của y (tức các tu sĩ dòng Tên) đã lập nhiều thành tích chống các dân ngoại ở Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Tân Thế Giới, đặc biệt là ở miền Nam nước Pháp và miền Tây nước Đức (When Ignatius died in 1556, his sons fought against the heretics in India, China, Japan, the New World, specially in Southern France and Western Germany). (The Secret of the Jesuits - Edmond Paris 1975, p. 24).Các tu sĩ dòng Tên là những kẻ trí thức kiêu căng hợm hĩnh (intellectual arrogants) chủ trương "Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện" (The End justifies all the means) cực kỳ nguy hiểm vì vin vào nguyên tắc này, họ bất chấp mọi thủ đoạn lừa dối tàn ác, chỉ cốt sao thực hiện được những lợi ích của riêng Giáo Hoàng La Mã là đủ (We know best what benefits the Pontiff).

Trong thập niên 1960, linh mục dòng Tên Hoa Kỳ Rogert Drinan đắc cử dân biểu quốc hội đã nhận lệnh của GH Paul VI chống chiến tranh VN và vận động buộc Nixon từ chức sau vụ tai tiếng Watergate.Trong quá khứ 4 thế kỷ, đại học Gregorian University tại Rome, do chính Loyola đứng ra thành lập năm 1551, đã đào tạo 8 hiển thánh khét tiếng, 16 giáo hoàng và hàng ngàn hồng y, tổng gám mục, giám mục. (GH Jean Paul II, không xuất thân từ đại học nầy mà được đào tạo tại một tu viện bí mật của tổng giáo phận Krakow Ba lan trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Sau khi chịu chức linh mục, Wojtyla được gửi theo học tại đại học St. Thomas Aquinas của dòng tu Đa Minh). Hiện nay, 3 phần 4 các giáo sư dạy các phân khoa của trường Gregorian đều là tu sĩ dòng Tên. Trong tổng số 2000 sinh viên theo học, chỉ có non một nửa là tu sĩ của dòng mà thôi, các nữ sinh viên đều là nữ tu. Sinh viên Ý đông nhất, kế đến là các sinh viên Mỹ (họ gọi trường là The GREG). Trường rất nổi tiếng về các khoa tâm lý, xã hội học, Viện Nghiên Cứu Đông Phương và nhất là Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác xít. Trụ sở lớn nhất của dòng Tên hiện nay ở Brazil, kế đến là các dòng tu tại Châu Mỹ La Tinh, Đức, Hung, Balan và Ý. Hiện nay tại Hoa Kỳ, rất nhiều tu sĩ dòng Tên là các nhà thiên văn, các khoa học gia đang làm việc tại các trung tâm khoa học. Trong thời chiến tranh lạnh, họ là các chuyên gia trao đổi các dữ kiện khoa học với các chuyên gia khoa học của Liên Xô. Đài phát thanh Vatican (Vatican Radio) hoàn toàn do các tu sĩ dòng Tên thiết kế và điều khiển từ năm 1931 dưới triều GH Pius XI, phát thanh liên tục 24/24 bằng 34 thứ tiếng. Từ đầu thập niên 1990, các tu sĩ dòng Tên đã bị nhóm đối lập đẩy ra khỏi đài. Nhóm này thuộc phe quá khích, được mệnh danh là "Pháo đài của Chúa" (Opus Dei) Dòng Tên chiếm ưu thế tuyệt đối tại Vatican dưới thời Pius XII: Toàn bộ các giáo sĩ từ các thư ký, hầu cận, cho đến tu sĩ cao cấp thân cận với Pius đều là các tu sĩ dòng Tên người Đức! Các giới chức lập hồ sơ phong thánh cho Pius XII cũng đều là Jesuits Đức cả. Hiện nay việc phong thánh cho Pius XII gặp phải nhiều trở ngại. Trở ngại lớn nhất là có nhiều ý kiến cho rằng: "Nếu Pius XII là á thánh thì Hitler phải là hiển thánh!" .Năm 1959, dòng Tên có 36.000 tu sĩ, năm 1980, con số này giảm xuống còn 26.000. Từ năm 1980 đến nay, con số tu sĩ dòng Tên càng ngày càng giảm sút nhanh vì bị chống đối dữ dội tại các nước Trung Nam Mỹ, Hoa Kỳ và tại Philippines.



CÁC TÁC PHẨM GIÁ TRỊ TỐ CÁO DÒNG TÊN

Từ thập niên 1970 đến nay có nhiều kiệt tác phẩm của các tu sĩ dòng Tên bỏ đạo và tố cáo những tội ác tày trời của Giáo hội Công giáo La Mã. Trong số đó phải kể tới những tác giả rất nổi tiếng như cựu LM Tiến sĩ Peter de Rosa, tác giả Vicars of Christ, Cựu LM Tiến sĩ Alberto Rivera tác giả The Godfathers, Double Cross, The Forces of Devil, The Crusaders... Cựu LM Malaci Martin với tác phẩm The Jesuits . . . và nhiều vị tu sĩ dòng Tên khác. Nhưng có lẽ một người đặc biệt được thế giới Tây phương chú ý nhất là cựu linh mục dòng Tên người Pháp hiện vẫn ẩn thân nhưng đã viết nhiều tác phẩm rất giá trị. Đó là cựu LM Edmond Paris. Nói chung, tất cả các vị trí thức dòng Tên nói trên đều là những chiến sĩ lương tâm của nhân loại vì họ đã từng tuyên thệ trung thành với Vatican Khi không thực hiện lời tuyên thệ cũng đã đủ phải trả giá bằng máu rồi, huống hồ còn dám viết sách chống lại quỉ dữ thì họ đã tự biết số phận của họ sẽ phải như thế nào. Nhưng họ vẫn làm những việc mà lương tâm thúc đẩy.

Cựu LM Edmond Paris đã viết:- Le Vatican contre La France (chưa dịch sang Anh ngữ)- Genocide in The Satelite Croatia.- The Vatican Against Europe- The Secret History of the Jesuits. (được dịch sang Anh ngữ năm 1975) Khi giới thiệu các sách của Edmond Paris, nhà xuất bản Chick (PO Box 662 CA 9171 ) đã viết : Những điều nói trong sách này đều là sự thật với đầy đủ tài liệu chứng minh và mọi người tin vào Thánh Kinh Ki Tô tại Mỹ và Canada cần phải đọc vì Thánh kinh có viết rằng : "Dân của ta sẽ bị hủy diệt vì thiếu hiểu biết" ( The information in this book is factual and fully documented, it should be read by every Bible-believing Christian in the US and Canada. The Bible says : "My people are destroyed for lack of Knowledge") . Nguời viết bài giới thiệu sách của Edmond Paris không ai khác hơn là cựu LM Tiến sĩ Alberto Rivera đã nói trên.

Thiết tưởng những lời ông viết cho các tín đồ Công giáo Âu Mỹ cũng là những điều đồng bào Công giáo Việt Nam chúng ta nên biết. Vậy tôi xin tóm lược như sau: "Những nguời nguy hiểm nhất là những người bề ngoài tỏ ra rất ngoan đạo, họ đặc biệt nguy hiểm khi họ được đoàn ngũ hóa và nắm giữ một chức vụ quyền lực. Họ được kính trọng sâu xa bởi đám quần chúng ngu dốt không biết gì về những động lực hoàn toàn vô thần vì họ chỉ nhắm chiếm đoạt quyền lực mà thôi" (The most dangerous of men are those who appear very religious, especially when they are organized and in a position of authority. They have the deep respect of the people who are ignorant of their ungodly push for power behind the scenes) Những vị lãnh đạo tôn giáo này bề ngòai làm ra vẻ yêu mến Thiên Chúa nhưng lại thường hay giết người nhất. Họ thường kích thích bạo loạn và gây chiến, miễn sao đạt mục tiêu của họ. Họ là những nhà chính trị khéo léo, thông minh, ngoan đạo, nhũn nhặn nhưng thực ra họ đang sống trong một thế giới bí mật đầy âm mưu và chỉ thánh thiện ở cửa miệng. (These religious men who pretend to love God will resort to murder, incite revolution and wars if necessary to help their cause. They are crafty, intelligent, smooth religious politicians who are living in a shadowy world of secrets, intrigue and phony holiness.)

Những tổ phụ sáng lập đạo Công giáo đã bắt chước hầu như toàn bộ hệ thống tôn giáo cổ xưa của Babylon, pha trộn vào đó là thần học Do Thái và triết lý Hy Lạp. Tất cả những thứ đó đã dọn đường cho sự hình thành đạo Công giáo" (The Early Fathers observed most of the ancient Babylonian system plus Jewish theology and Greek Philosophy. They paved the way for the Roman Catholic machine that was to come into existence) .

Ignatius Loyola lập ra dòng Tên để bí mật thực hiện hai mục tiêu của Công giáo La Mã:

1-Thực hiện quyền lực chính trị toàn cầu.

2-Thực hiện Giáo Hội hoàn vũ đúng theo Kinh Thánh Khải huyền Rev. 6, 13, 17 và 18.

Quyền lực của Giáo hoàng và định chế Công giáo không chỉ hủy diệt sinh mạng con người như dòng Đa Minh đã thực hiện qua các tòa án dị giáo mà họ còn tìm cách xâm nhập vào mọi lãnh vực xã hội nữa. Họ quyết tâm chinh phục Tin Lành và bắt đạo này phải phục vụ cho quyền lợi của Giáo hoàng. Chính Loyola đã đề nghị với Giáo hoàng Paul III là phải cho người xâm nhập tất cả những bệnh viện, học đường và các trường đại học. (Ignatius Loyola created the Jesuits to secretly accomplish two major goals for the Roman Catholic Institution: 1) universal political power and 2) a universal church in fulfilment of the prophecies of Revelation 6, 13, 17 and 18. Power of the Pope and the Roman Catholic institution not by just destroying the life of the people alone as the Dominican priests were doing through the Inquisition, but by infiltration and penetration into every sector of life. Protestantism must be conquered and used for the benifit of the pope . . )

Tác giả Edmond Paris đã tố cáo sự xâm nhập của dòng Tên vào mọi chính phủ và mọi quốc gia để lèo lái lịch sử nhân loại đến chỗ độc tài (độc tài tôn giáo) và làm suy yếu các nền dân chủ. Khi Edmond Paris dám tố cáo các âm mưu đó của Vatican là ông đã tự đem mạng sống của mình làm cái giá chứng minh sự thật. Edmond Paris sẽ không bao giờ biết tôi là ai và tôi cũng chỉ biết tên tác giả thôi chứ không bao giờ gặp mặt bởi vì chúng tôi đã tuyên thệ những lời thề độc địa nên chúng tôi đã bị lên danh sách là những kẻ nguy hiểm nhất cho những mục tiêu của định chế Công giáo La Mã. Nhưng tên của tác giả là để dành cho chúng ta. . . . Những tác phẩm của ông hiện đang bị mua chuộc và giả maọ, nhưng chúng ta hãy cầu xin Thượng Đế gìn giữ những cuốn sách đó vì chúng rất cần thiết cho sự giải cứu những người Công giáo La Mã. Hỡi những đồng đạo Công giáo, tôi viết những dòng này vì sự cứu rỗi của các người.

Ký tên. Tiến sĩ Alberto Rivera (Cựu tu sĩ dòng Tên) (Edmond Paris . . .in exposing such a conspiracy, he puts his life at stake for truth . . . . His name is given to us. We are praying that God will continue to preserve them when they are most needed for the Salvation of Roman Catholic people. Yours for the Salvation of the Catholic People - Alberto Rivera , ex-Jesuit priest. The Secret History of The Jesuits, translated from French 1975, Publisher' s Introduction)



PHANXICÔ XAVIÊ

Một đệ tử khét tiếng của Ignatius Loyola là Francis Xavier (Phanxicô Xaviê). Trên tháp chuông nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn có tượng thánh Phanxico Xa-vie mặc áo giống linh mục lúc làm lễ. Ông ta là một nhân vật nổi tiếng tại Ấn Độ vào thế kỷ 16. Các vua quan Ấn Độ rất khâm phục ông. Phanxicô Xaviê cùng các đệ tử đã đạt thành tích truyền đạo cho 100.000 người Ấn Độ nên ông đã được Vatican phong cho là Thánh Tông Đồ của Ấn Độ (The Apostle of India). Ông thất bại trong việc truyền đạo tại Nhật Bản nên muốn bỏ Nhật sang truyền đạo tại Trung Quốc. Tuy chưa đặt chân lên Trung quốc nhưng vì rất am hiểu tâm lý của người Trung Hoa nên ông đã tích cực vận động Giáo Hoàng Clement IX bãi bỏ lệnh cấm người Công giáo Đông phương thờ cúng tổ tiên.





Link: http://en.wikipedia.org/wiki/Francis_Xavier



Năm 1704, Giáo Hoàng Clement IX đã không nghe lời ông can gián và ra đạo luật cấm thờ cúng tổ tiên. Các giáo dân Trung Hoa bỏ đạo gần hết vì bị Giáo Hoàng xúc phạm đến tín ngưỡng lâu đời của họ. Người Trung Hoa tức giận với lý do rất dễ hiểu: Nếu tổ tiên là quỉ thì chính mình sẽ là "con cái của ma quỉ" chứ còn là cái gì khác hơn được! Chỉ bằng một hành động dại dột của "Đấng không thể sai lầm", Vatican đã xóa tan công trình truyền đạo trên 100 năm của các tu sĩ dòng Tên tại Trung Hoa. Các tu sĩ dòng Tên oán trách Giáo Hoàng Clement IX "đã đánh mất Trung Quốc" của họ! Do thất bại quá đau đớn này, đến thế kỷ 20, Vatican mới học được bài học kinh nghiệm nên đã cho phép mọi người Công giáo Á Đông được thờ cúng ông bà cha mẹ của mình tự do, không phải kiêng cử gì cả. Ông bà tổ tiên của chúng ta đã được Tòa Thánh La Mã sáng suốt chính thức công nhận không phải là ma quỉ trong cộng đồng Vatican II (1962).

Nhưng đến nay, Tòa Thánh mới chỉ nhượng bộ đối với đạo thờ cúng ông bà tổ tiên mà thôi. Còn đối với đạo Phật, đạo Lão vẫn tiếp tục bị kết án là các đạo thờ quỉ như thường lệ. Trong sách kinh "Nhựt Khóa" của Tổng giáo phận Sài Gòn, đã được Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt ngày 19.3.71, có kinh Cầu Ông Thánh Phan xi cô Xa-vie rất dài (từ trang 784 đến 791) trong đó có những câu như sau:- Ông Thánh Phan xi cô là môn đệ rất xứng đáng của ông thánh I-nha-xi-ô (Ignatius)- là quan thầy các nước Đông phương- là kẻ nghịch đạo dị đoan- phá tan đạo bụt thần ma quỉ.- là lính rao tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ (vì chúng nó không biết ăn thịt uống máu của Chúa và của người ta)- là đèn soi cho những dân ngoại đạo (tối tăm)- ông Thánh F. Xavie làm cho quỉ thần (ám chỉ Đức Phật) kinh hoàng và làm sáng danh Đức Chúa Trời đời đời chẳng hết.

Trong sách kinh "Toàn Niên Kinh Nguyện" của hai địa phận Bùi Chu và Hà nội (do Cơ Sở Dân Chúa P.O Box 1419-Gretna - LA. 70053, LM Việt Châu chủ quản) nơi trang 18-19, có câu "Cúi xin Chúa từ nay về sau đừng để những người ngoại đạo khinh dễ công ơn cứu chuộc (vì không chịu vào đạo Chúa). Xin chúa vì lòng nhân từ Chúa mà dong thứ cho những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy bụt thần".Nơi các trang 143-145 có câu: "Xin Chúa hãy làm vua các kẻ còn ở nơi tối tăm thờ lạy bụt thần hay là theo đạo Mahomét mà rủ thương chúng nó nhận biết sự sáng thật cùng phục quyền Chúa tôi".

Đối với người Việt Nam, tu sĩ dòng Tên nổi tiếng người Pháp Alexandre de Rhodes, tức cố đạo Đắc Lộ, là một nhân vật dòng Tên có mối liên hệ mật thiết nhất với chúng ta. Tuy không phải là người lập ra chữ quốc ngữ nhưng ông cũng một phần có công truyền bá chữ này. Cuối tháng 3.1993, hội khoa học lịch sử của chính phủ Việt Nam đã tổ chức một hội nghị tưởng niệm 400 năm ngày sinh của ông tại hội trường Bảo Tàng Viện Cách Mạng. Nhân dịp này, chính phủ Việt Nam đã quyết định khôi phục tên đường Alexandre de Rhodes tại Saigon và cho dựng lại tấm bia đá kỷ niệm mang tên ông tại khuôn viên Thư Viện Quốc Gia ở Hà nội*.

Linh Mục Alexandre de Rhodes đến nước ta truyền đạo 2 đợt:- Đợt đầu ở Đàng Ngoài từ 1624 đến 1630 thì bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất.- Đợt sau ở Đàng Trong từ 1640 đến 1645 thì bị Chúa Nguyễn Phúc Loan trục xuất.Linh Mục Alexandre de Rhodes là một tu sĩ dòng Tên rất hung hãn với chủ trương tấn công thẳng vào các nguyên lý đạo đức và chính trị của Nho Giáo: nhạo báng đức tính hiếu thảo với cha mẹ ông bà, bôi bác đạo thờ cúng tổ tiên đồng thời khuyến khích giáo dân không nên trung thành với nhà vua và chính quyền Việt Nam. Ông ra sức cổ võ con chiên phải đặt Vatican lên trên Tổ Quốc Việt Nam.

Phan-xi-cô Xa-viê hoàn toàn phủ nhận chủ quyền của mọi quốc gia mà ông ta đặt chân đến truyền đạo, ngụ ý một khi giáo dân đã "trở lại đạo" là đã trở thành công dân của Vatican chứ không còn là công dân bản quốc nữa!. Để hiểu về Alexandre de Rhodes, xin hãy đọc thêm các bài viết của LM Trần Thái Đỉnh, giáo sư Chương Thâu và Nguyễn Kha trong cuốn Kitô Giáo từ thực chất đến huyền thoại (Nhà Văn Hóa xuất bản, 1996). Đứng trên lập trường dân tộc, Alexandre de Rhodes là kẻ thù của chúng ta vì y chủ trương làm sạch địa bàn cho văn hóa Kitô Giáo độc diễn và dọn đường xâm lược cho thực dân Pháp. Y chính là kẻ "bắt nhịp" cho bài ca "quân hành" hoặc đúng hơn là bài ca "song hành" cho cặp bài trùng đế quốc thần quyền Vatican và đế quốc thế quyền thực dân Pháp trên con đường nô lệ hóa dân tộc Việt Nam



VẤN ĐỀ CHỮ QUỐC NGỮ, tôi thiết tưởng chúng ta không cần phải biểu lộ lòng biết ơn đối với các cố đạo vì họ không tri tình làm ơn cho dân tộc ta. Họ phát minh ra chữ Quốc Ngữ chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là tạo ra một phương tiện truyền đạo để gieo rắc biết bao tai ương cho đất nước ta mà thôi. Các cố đạo thừa sai là những kẻ địch thù của tổ quốc Việt Nam. Hãy coi chữ Quốc Ngữ là CHIẾN LỢI PHẨM chúng ta tịch thu được từ tay địch. Chúng ta không cần phải quay cổ lại phía đồn địch để cám ơn địch đã cho chúng ta những chiến lợi phẩm đó. Chúng ta cần phải dùng vũ khí tịch thu được của địch để giết hết bọn địch và bè lũ tay sai của chúng là bọn Việt gian đã tự biến mình thành những kẻ ăn đậu ở nhờ trên quê hương mình.

Đối với đạo Phật, chúng đã vô cớ lăng mạ và hạ đức Phật xuống thành quỉ dữ, lên mặt vênh váo láo xược với mọi giá trị tinh thần cao quí của dân tộc Việt Nam và các bậc anh hùng của chúng ta. Chúng ta phải bắt chúng quì xuống tạ tội hỗn láo với tổ tiên, với Đức Phật và với Hồn Thiêng Tổ Quốc. Chúng ta sẵn sàng tha thứ nếu chúng tỏ ra biết ăn năn hối cải. Nếu chúng vẫn tiếp tục ngoan cố láo xược, nhất định chúng ta không tha. Tội ác của bọn bán nước và cướp nước hãy còn nguyên đó!


Charlie Nguyễn







Charlie Nguyễn (1937-2005)

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

Charlie Nguyễn

Chúng ta đang sống trong thời đại của những cơ hội và những thách thức không thể tiên đoán. Nền khoa học xuất phát từ văn minh Tây phương không ngừng mở rộng những chân trời kiến thức khiến con người có thể sáng tạo nên những kỳ quan kỹ thuật không kém gì những phép lạ của Thượng đế. Con người đã thành công sáng tạo ra những con cừu hay những con chuột giống hệt như nhau từ những tế bào sinh vật. Con người cũng đã thành công trong việc làm những cơn mưa nhân tạo, hoặc trong việc nghiên cứu các “genes” để tạo ra những giống lúa, rau, quả theo ý muốn. Các nhà hóa học đang tìm cách phục chế các loại rác do loài người phế thải mỗi ngày để giảm bớt tối đa sự phung phí nguyên liệu. Giới y khoa đã thành công chế tạo vài loại thuốc chủng ngừa bằng DNA để giúp con người chỉ cần chủng ngừa một lần cũng đủ tránh được một vài thứ bệnh nào đó trong cả cuộc đời.

Thế giới khoa học Tây phương vẫn liên tục đóng góp mỗi ngày vào kho dự trữ kiến thức của nhân loại. Chỉ trong phạm vi Anh ngữ không thôi, người ta tính ra có tới 7000 tài liệu được viết ra mỗi ngày về các đề tài khoa học. Không một ai có đủ thỉ giờ và sức lực để đọc, chứ không nói tới chuyện có hiểu hay không.

Chúng ta tự hào đang được sống trong thời đại Tin Học (Information Age) nhưng thực sự ra chúng ta đang bị tràn ngập bởi những dữ kiện (data) mà phần lớn đã làm cho chúng ta điên đầu lo lắng và căng thẳng thần kinh. Mọi người Tây phương hầu như đang được sống trong cuộc sống vật chất đầy đủ nhất từ xưa đến nay, nhưng con số những người bị căng thẳng tinh thần, thậm chí là mắc bệnh tâm thần lại có phần gia tăng hơn trước. Rõ ràng cuộc sống vật chất sung mãn không phải là điều kiện cần và đủ cho một cuộc sống hạnh phúc của con người.

Nói như vậy không phải chúng ta có ý làm giảm giá trị của khoa học trong nền văn minh Tây phương. Trái lại, chúng ta đánh giá cao những thành tựu của nền khoa học đó và nhân loại phải biết ơn những nhà khoa học Tây phương đã góp công vĩ đại nâng cao mức sống và tầm hiểu biết của toàn thể loài người chúng ta về mọi lãnh vực. Vấn đề cốt lõi là chúng ta không thể quên cái trọng tâm của thế giới này là chính CON NGƯỜI. Chúng ta không thể sống hạnh phúc với thân xác và với thế giới giầu có về vật chất mà không cần một cái gì khác, nhất là không cần để ý tới ai. Để có được một cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn thì ngoài cuộc sống vật chất đầy đủ ra chúng ta cần có một tâm hồn ổn định hài hòa với tình thương bao la ràn trải tới mọi đồng loại.

Phải chăng lịch sử loài người đã có hoặc sẽ có một “thời đại hoàng kim”, trong đó tập thể con người được sống trong hòa bình và yêu thương nhau ? Nói một cách khác, muốn sống có hạnh phúc, chúng ta cần có trước hết là “tình người”. Phải chăng đó là tuyệt đỉnh của văn minh nhân loại ? Phải chăng ngọn đuốc của sự hiểu biết về cái “cùng kỳ lý” đã không được truyền tay từ đời xưa đến đời nay một cách liên tục và nó đã bị thất lạc trong một chặng nào đó trong chiều dài của những thiên-niên-kỷ ?

Nêu lên những câu hỏi này là chúng ta đang rất quan tâm đến những giá trị tinh thần đã bị thất lạc. Có thể những giá trị tinh thần qúi báu đó đã không được các sử gia, các nhà khoa học và các chính trị gia Tây phương để ý tới. Chúng ta có thể qủa quyết một điều là nền văn minh của nhân loại đã không bùng nổ đột biến như hiện tượng “Big Bang”. Nền văn minh đó đã hình thành bằng những bước đi dò dẫm chậm chạp trên đường tiến hóa dài tới cả triệu năm. Khoa học khảo cổ đã đạt những thành tựu lớn lao trong việc khám phá quá khứ của nền văn minh nhân loại, nhưng ánh sáng của ngành khoa học này mới chỉ soi rọi tới cái giới hạn của nó là thời kỳ đồ đá (Stone Age) tức khoảng thời gian từ 25000 đến 4000 năm trước công nguyên (TCN). Người Tây phương đã tìm ra những cái nôi của nền văn minh như Summer, Babylon, Dilmun, Elam, Ai Cập,.... Những cái nôi của nền văn minh ấy đều đã xuất hiện vào cuối thời kỳ đồ đá (8000-4000 TCN) nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ tại sao tất cả những nền văn minh ấy đều đã bị tiêu diệt. Phải chăng sự qúa mê tín vào kiếp sau và lo cho kiếp sau (người Ai Cập lo xây kim tự tháp làm suy sụp kinh tế quốc gia) và chiến tranh tôn giáo đã là những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự hủy diệt những nền văn minh ấy ?

Người Tây phương cũng không tránh khỏi những nhận định chủ quan trong sự đánh giá những nền văn minh đó. Từ khi Napoléon kéo quân đến chiếm Ai Cập vào đầu thế kỷ 18, ông ta đã ngỡ ngàng đứng ngắm nhìn những kim tự tháp. Tiếp theo đó là những khám phá thành công của ngành khảo cổ tại vùng Cận Đông với các di vật đã hùng hồn nói lên cái quá khứ đầy huy hoàng tráng lệ của Babylon và đất thánh Jerusalem.

Thế giới phương Tây dường như có ấn tượng cho rằng vùng Cận Đông là cái nôi duy nhất của văn minh nhân loại. Những phát minh đầu tiên là những phát minh chưa từng có bao giờ trước đó (The firsts of first time ever) đều được gán cho là của giống dân Sumerians, những người đầu tiên định cư tại Babylon mà người Hy Lạp gọi là Mesopotamia. Mesos là “ở giữa” (Middle); Potamia là “những con sông” (Rivers). Đó là miền châu thổ được tạo nên bởi hai con sông Euphrate và Tigris, người Hoa dịch ra là Lưỡng-Hà-Châu. Hiện nay cả vùng này chỉ là một sa mạc mênh mông cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 80 dặm về phía Nam.

Ngày nay, người ta đã nhận thấy những nhận định trên đây là thiên lệch và chủ quan quá đáng. Bởi lẽ nhiều nền văn minh cổ khác đã được khám phá tại Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico (văn minh Maya).

Sự thật là thế giới cổ đã xuất hiện nhiều nền văn minh độc lập tại nhiều vùng khác nhau, trong số đó tại sao lại không thể có một nền văn minh thuần túy Việt Nam ?

Vì một lý do nào đó chưa rõ, tất cả các nền văn minh cổ đều đã tàn lụi, nhưng điều may mắn là các nền văn minh ấy đều để lại những dấu vết trong kho tàng kinh nghiệm của loài người. Không có một nền văn minh nào là kẻ sống sót duy nhất trên hành tinh này !

Trong tác phẩm “Truy Tìm Cái Nôi của nền Văn Minh” (In Search of the Craddle of Civilization) của ba tác giả George Feverstein, Subhash Kak và Davis Frawley – Quest Book 1995, nhiều nhà khoa học thuộc ngành khảo cổ đã đưa ra một nhận định mới cho rằng ngoài Babylon ra còn có nhiều cái nôi văn minh khác đã phát sinh một cách riêng biệt tại nhiều vùng khác nhau trong thế giới cổ. Điều nhận xét đặc biệt của họ là những cái nôi của văn minh nhân loại đều nằm trong cái vòng đai chạy quanh trái đất song song với đường xích đạo. Hầu hết đều ở gần Hạ Chí Tuyến (Tropic of Cancer) song song và nằm về hướng Bắc của đường Xích Đạo. Vòng đai này chạy qua Ai Cập, Babylon, Jerusalem, Bắc Ấn và miền Bắc Việt Nam (sách dẫn chiếu, p. XIX).

Để góp phần vào việc khôi phục và phát huy nền văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải đi vào trọng tâm của vấn đề là moi tìm những sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta về cái “cùng kỳ lý” của vũ trụ và cuộc sống. Đó là quan niệm của tổ tiên chúng ta về lẽ âm dương trong vạn vật và thái độ ứng xử khôn ngoan của tổ tiên chúng ta là chấp nhận những mặt đối lập để cùng tồn tại và phát triển theo cái lẽ “tương khắc, tương sinh”. Áp dụng sự khôn ngoan của tổ tiên vào thái độ sống của chúng ta hiện nay là: hãy mở rộng con tim và khối óc để đón nhận những dị biệt của các nền văn hóa ngoại lai du nhập với một tinh thần bao dung hài hòa. Tổ tiên chúng ta không dành độc quyền chân lý:

“Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”
“Rằng trong lẽ phải có người có ta”

Biết ta có cái hay của ta, người có cái hay của người. Điều quan trọng là biết học hỏi cái hay của người để bổ túc cho cái thiếu xót của ta và biết dùng cái Đức của ta để cảm hóa cái xấu, cái dở của người.

“Có đi có lại mới toại lòng nhau”

Nhưng cuối cùng, tổ tiên chúng ta không tranh thắng với ai bằng cái lý, vì thắng bằng cái lý không thôi sẽ làm cho kẻ thua mất mặt và làm mất đi cái tình cảm thương yêu lẫn nhau. Tổ tiên chúng ta rất đau xót nếu có ai làm mất đi cái tình cảm đó.

“Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”

Chúng ta không kỳ vọng quá cao vào riêng cái kho tàng văn hóa của dân tộc để cho rằng sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên đủ để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay. Thật sự chúng ta cần phải học hỏi Tây phương rất nhiều về phương pháp tổ chức, óc phân tích khoa học, tinh thần trọng sự chính xác và nhất là ý chí phấn đấu liên tục trong học hỏi, tìm hiểu và phát minh để không ngừng tiến bộ mọi mặt.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta đã được chắt lọc qua biết bao gian lao thử thách trong cuộc sống của toàn dân, nó là sợi chỉ xuyên suốt của bản sắc dân tộc qua nhiều ngàn năm lịch sử dấu tranh để đất nước ta còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Hiển nhiên là cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên, tức là cái gốc của nền văn minh Việt Nam, đã được chứng nghiệm qua quá khứ 4000 năm lịch sử. Vậy nó phải có một giá trị nhất định. Ít nhất cái vốn văn hóa dân tộc cũng giúp chúng ta xác định được một thái độ sống dung hòa, lấy tình người làm trọng tâm. Thái độ sống đó hướng dẫn chúng ta cần phải tránh mọi chủ nghĩa và mọi tôn giáo cực đoan, vì những thứ cực đoan này đã tàn phá thế giới và hủy diệt tình người.

Dưới ánh sáng của văn hóa dân tộc, chúng ta hãy bình tâm đánh giá lại mọi chủ nghĩa và mọi tôn giáo mà chúng ta đang theo :

Mọi tôn giáo hay mọi chủ nghĩa chỉ có thể là chính đáng nếu nó thực sự phục vụ con người. Bất cứ một thứ chủ nghĩa nào, dù nhân danh quốc gia hay xã hội, mà chà đạp hủy hoại con người đều là những tà thuyết đáng lên án. Mọi thứ tôn giáo dù nhân danh Thượng đế hay hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu nhưng đã ngăn cách con người với nhau và hủy diệt lẫn nhau vì những tranh chấp thế tục thấp hèn thì đó không phải là những tôn giáo “thật”. Những tôn giáo đó thực chất chỉ là buôn thần bán thánh của những người khoác áo thầy tu để lừa bịp con người và đi ngược lại ý Thượng đế.

Phật đã dạy mọi chúng sinh đều có Phật tính. Như vậy Phật đã có sẵn ở trong lòng mỗi người. Muốn tìm Phật thì cứ việc tìm Ngài ở trong lòng mình, không cần phải tới chùa - Phật tại tâm chứ không tại chùa. Hãy tin vào chính mình và nhớ lời ông cha ta dạy rằng: bộ áo khó làm nên thầy tu. Tổ tiên chúng ta dạy chúng ta cái tinh thần đề cao cảnh giác “miệng tụng Nam Mô, bụng bồ dao găm”

Chúa Jesus còn dạy kỹ hơn: “Kẻ giàu vào nước thiêng đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ai cũng biết giáo hội Vatican là giáo hội giàu nhất thế giới với tài sản hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Vậy cả cái giáo hội Vatican chắc chắn là khó mà chui lọt lỗ kim đó ! Ai muốn lên thiên đàng thì hãy nghe lời Chúa, chứ đừng nghe các vị thừa sai của giáo hội mà phải sa hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu công sức bỏ ra để đọc kinh rã họng cả mấy chục năm cũng đều đổ xuống sông xuống biển. Trong Thánh Kinh, Chúa cũng dạy con người hãy tránh xa các nhà thờ, vì Chúa không ở trong đó: “Thánh Linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ do bàn tay con người tạo nên” (The Holy Spirit no longer dwelth in temples made by men’s hands – Acts 17:24). Thánh Kinh xác định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa. Thánh Linh của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Ye are the temple of God. The Spirit of God dwelth in you – ICor. 3:16).

Rõ ràng một điều là Phật cũng như Chúa đều dạy mọi người hãy quay về với chính nội tâm của mình. Nội tâm của mổi người mới là Chùa thật và đền thờ thật. Mọi thứ nhà thờ, thánh thất hay chùa chiền miếu mạo ta thấy bên ngoài đều là đồ giả. Đó chính là những trung tâm dẫn dắt con người xa rời các lời dạy chân chính của Phật và Chúa. Mái chùa hay mái nhà thờ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Bức tường của nhà thờ hay chùa do người ta xây dựng càng cao bao nhiêu thì càng ngăn cách con người với nhau bấy nhiêu. Các tu sĩ giảng giải dông dài chính là những người đầu tiên phản bội lại các giáo chủ của mình, trước khi phản bội đồng đạo nhẹ dạ của họ.

Trước khi các đạo du nhập vào đất nước ta, tổ tiên chúng ta đã sống hàng ngàn năm bình yên, hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào cả. Tổ tiên chúng ta đã nhận thức rằng: chúng ta đã có sẵn một đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”.

Tổ tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần một thứ chúa Cứu Thế nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cứu nước ta thoát ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng tuổi Jesus, và hai Bà Trưng đã thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Jesus lúc đó còn bận giảng đạo ở Jerusalem, chẳng biết cái xứ Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên địa cầu làm sao tới cứu? Jesus bị quân La Mã đánh đập tơi bời rồi bị đóng đinh trần truồng trên thập giá về cái tội dám chống lại đế quốc. Jesus là nạn nhân của bọn đế quốc La Mã. Đối đầu với cả một đế quốc hung bạo, Jesus đã không thể tự cứu mình, nên đã phải chết dưới tay chúng.

Một người đã không thể cứu nổi chính mình thì làm sao có khả năng làm Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người chủ mưu giết mình ? Học giả Do Thái Leonard Yassen đã viết rất chí lý trong tác phẩm “The Jesus Connection to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề biết gì về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết với danh nghĩa là người dã sáng lập ra đạo này, mà chết vì danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang vĩ đại do đế quốc La Mã tạo ra để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế quốc La Mã. và họ đã chọn dân tộc Do Thái với mục tiêu rõ rệt là để tiêu diệt dân tộc này.

Kẻ viết bài này đã viết trong tinh thần thanh thản, không một chút ác cảm riêng tư nào đối với Công Giáo, vì đạo này là đạo của tổ tiên, gia tộc nội ngoại từ thế kỷ 16. Mọi người thân thiết của đời tôi, tất cả đều là những tín đồ Công Giáo nhiệt thành đến độ sẵn sàng “tử vì đạo” bất cứ lúc nào. Tôi đã sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc ấy của Công Giáo miền quê Nam-Định. Nhưng cũng tại nơi miền quê đó, cái bản sắc đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam vẫn không phai nhòa trong đáy sâu cùng tận linh hồn của những người nông dân chất phác hiền hòa. Cái ánh sáng của văn hóa dân tộc còn sót lại nơi tôi đã cởi trói cho tôi và giải thoát tôi khỏi “cái tròng Công Giáo” (The Catholic Loop – theo cách nói của bà Joanne H. Meehl, tác giả cuốn Người Công Giáo Tỉnh Ngộ - The Recovering Catholic – Prometheus Books, NY 1995).

Đã sống nhiều năm ở hải ngoại, tôi đã ăn nhiều “french fries, baked potatos, smashed potatos”, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai mẹ tôi lùi trong bếp tro rơm rạ. Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi mà sao cái hương vị ngọt ngào ấy vẫn như còn tồn đọng trong đáy sâu tâm hồn tôi. Đặc tính văn hóa dân tộc Việt Nam có lẽ không khác mấy với hình ảnh củ khoai đơn sơ mộc mạc lùi tro trong căn bếp mái tranh vách đất năm xưa. Bề ngoài củ khoai nướng trông đen thui xấu xí, nhưng tất cả hương vị ngọt ngào nguyên chất của nó đã không mất đi đâu chút nào mà đều qui tụ vào trong. Văn hóa dân tộc ta không có cái vẻ kiêu sa lộng lẫy như văn hóa Tây Phương vì nó chìm sâu trong lòng người với tất cả những gì nguyên chất của giá trị CON NGƯỜI. Xét về thực chất giá trị, chưa hẳn nền văn hóa Tây phương đã cao hơn văn hóa Việt Nam. Cũng như hương vị thơm ngon của french fries hay smashed potatos chưa chắc đã bì kịp với hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai lùi bếp tro.

Cái hương vị ngọt lịm nóng hổi của củ khoai nướng thô sơ mộc mạc cũng như lòng thương con chân thật của bà mẹ quê đã thấm sâu vào từng giọt máu, từng đốt xương và từng hơi thở của linh hồn. Tôi vẫn ghi lòng tạc dạ những lời mẹ dặn: “Con hãy sống theo lời Chúa. Thánh Kinh là kho tàng của sự khôn ngoan để cho con học hỏi suốt đời”. Quả thật, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều khôn ngoan tốt lành nơi Thánh Kinh, nhưng không phải mọi điều trong đó đều khôn ngoan và tốt lành cả. Trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước không thiếu gì những điều nhảm nhí, ác độc và vô luân. Vấn đề quan trọng là khi đọc Thánh Kinh, cũng như khi đọc mọi cuốn sách khác, ta cần phải biết phân biệt đâu là điều đúng, đâu là điều sai. Thánh Kinh chẳng phải là cuốn sách thiêng liêng ghi chép những lời của Chúa, vì Chúa là đấng thiêng liêng chẳng nói bao giờ. Tất cả chỉ là những lời của người phàm tục được gán cho Chúa qua cái mà người Công giáo thường gọi là sự “mặc khải”. Cả ba tôn giáo độc thần (Do Thái, Ki Tô, Hồi) đều vin vào sự mặc khải này để buộc tín đồ phải tin Thánh Kinh của mình là chân lý tuyệt đối. Đó là nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ tự tôn mù quáng và độc quyền chân lý. Cả ba tôn giáo thờ cùng một ông chúa đều muốn dành độc quyền chân lý, nên đã gây thánh chiến với nhau tạo nên cảnh núi xương sông máu trong hơn chục thế kỷ qua. Họ đã biến Thánh Kinh của Tình Yêu (Gospel of Love) thành Thánh Kinh của lòng hận thù (Gospel of Hatred). Vậy Thánh Kinh đã rõ ràng không phải là lời của Chúa. Qủy sứ cũng có thể viện dẫn Thánh Kinh để giải thích cho những việc làm ác độc của chúng. Thánh Kinh chỉ là tấm màn che mỹ miều để những phần tử lợi dụng tôn giáo núp đằng sau tha hồ tác yêu tác quái mà vẫn được các nạn nhân của họ kính trọng như thường!

Mỗi khi suy nghĩ về đạo Công giáo là đạo lâu đời của ông bà tổ tiên, tôi thường áy náy trong lòng và tự hỏi mình liệu có phạm tội bất hiếu hay không. Trong những hoàn cảnh ấy tôi thường nghĩ đến mẹ tôi và tâm sự với người trong tư tưởng :

Mẹ ơi ! Con cám ơn mẹ đã cho con một trí óc để suy xét, một trái tim để yêu thương và một lương tâm để đón nhận những lời nói chân thật. Con không tin những lời người ta nói trong sách, dù đó là sách Kinh Thánh, nhưng chỉ tin vào những lời nói của lương tâm trong tâm hồn chân thật của con mà thôi.

Con kính trọng mẹ là một người phụ nữ Công giáo chân thật, hết lòng mến Chúa, yêu người. Đồng thời mẹ cũng là một người nông dân Việt Nam chân thật, vì mẹ đã sống thật với lòng mình, vốn rất đơn sơ, mộc mạc, hiền hòa. Mẹ không ưa lý luận cao xa, mà chỉ biết yêu thương vô điều kiện. Mẹ đã tìm thấy thiên đàng của Chúa trong tâm hồn bình an của mẹ ngay lúc còn sống trên cõi đời này. Mỗi lần giỗ mẹ, con không cầu xin Chúa cho mẹ được rỗi linh hồn, vì mẹ đã rỗi linh hồn từ khi còn sống. Con không theo một tôn giáo nào, nhưng con tôn kính con người thật của Jesus, cũng như tôn kính con người thật của Thích Ca Mâu Ni. Con tôn kính các Ngài, nhưng chẳng bao giờ muốn mình trở thành công dân Do Thái hay Ấn Độ, và càng không muốn trở thành công dân của Vatican. Tổ Quốc muôn đời của con vẫn là Việt Nam. Cả Jesus lẫn Thích Ca đều là những chân sư của con, vì các Ngài đều là những “ngón tay chỉ trăng” hướng dẫn con trên đường giác ngộ. Các Ngài đều là những trí tuệ bậc cao để cho con từ thấp ngó lên ngưỡng mộ, chứ không phải để tôn thờ. Các Ngài đều đã được sinh ra bởi người, chẳng phải đã sinh ra từ đất bùn cũng chẳng phải đã được sinh ra bởi người mẹ “đồng trinh”. Các Ngài đều đã không thoát được cái qui luật ”sinh, lão, bệnh, tử” và cả Chúa lẫn Phật đều đã trở về với cát bụi vô tri vô giác từ lâu. Như vậy các Ngài chẳng có chút quyền năng nào để ban ơn hay trừng phạt con người. Do đó, việc cầu xin Chúa hay cầu khấn Phật để xin ơn này ơn kia đều là những hành động mê tín nhảm nhí, hoàn toàn vô ích.

Cả Chúa trong nhà thờ lẫn Phật trên chùa đều là những hình tượng do người ta dựng lên. Chẳng có Chúa, Phật nào thưong con thật tình bằng mẹ thương con.

Dù cho thời gian phôi pha và dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hương vị của những củ khoai nướng lùi bếp tro vẫn cứ mãi vấn vương trong lòng con, vì đó chính là biều hiệu tình yêu thương bất diệt của mẹ trong linh hồn con.

Mẹ ơi, linh hồn Việt Nam chân thật của mẹ vẫn sống mãi trong con !
__________________

THÀNH HOÀNG NGUYỆT BIỀU



Thứ năm - 05/06/2008 13:04





Thành hoàng ở Trung Quốc cổ đại là thần bảo hộ thành. Nhưng khi khái niệm đó đưa vào Việt Nam ta thì lại chỉ thần bảo vệ làng.

Mỗi làng phụng sự một vị thần hoàng có làng thờ hai vị, có làng thờ năm, bảy vị, tức gọi là phúc thần. Phúc thần chia làm ba hạng: Thượng đẳng thần, trung đẳng thần và hạ đẳng thần.

Ví dụ: Phường phương sài, Nha Trang thờ bản cảnh thành hoàng là cao Các Đại Vương và thần Bạch Mã.
Làng Hương cần, Hương trà, Thừa Thiên thờ thần bàn cảnh là ngài Hồ Quang Đại và Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi.

Làng Dương Xuân Thượng thờ các vị thần: Cao Các Đại Vương, Thiên y A Na Thánh Mẫu, Tứ vị Thánh Nương, Phi Vận Tướng Quân Tùng Giang Văn Trung và đô đốc kiểm sự Lữ Quí Công.

Làng Dương Xuân Hạ thờ: CAO CÁC quảng độ thượng đẳng thần, tiến sĩ Phi Vận Tướng Quân Tùng Giang Văn Trung Trung Đẳng Thần.

* Đình Nguyệt Biều là một trong những đình lớn của xứ Huế. Các vị thần của bản làng được thờ tại đình, tại Miếu Ông ( Miếu Thiên Thần). Đặc biệt ngài CAO CÁC được thờ tại miếu riêng là miếu Đùng, tại ấp Trường Đá; Ngài Thai Dương phu Nhân được thờ tại miếu bà, tại ấp Đông Phước, gần Ủy ban xả Thủy Biều.

Làng Nguyệt biều thờ ba vị Thượng đẳng thần, hai vị Trung đẳng thần và năm vị Hạ đẳng thần.

Ba vị Thượng đẳng thần:

- Cao Các Đại Vương;

- Đại Càng Quốc Gia Nam Hải;

- Thai Dương Phu Nhân

Hai vị trung đẳng thần;

- Phi Vận Tướng quân Tùng Giang Văn trung;

- Nhị vị công tử sơ vong trạc Dương trác Vĩ.

Năm vị Hạ đẳng thần, đó là năm tổ;

- Tô Thái Liêu (trong số tế ghi lầm Tô Đại liêu)

- Hồ Đại Tướng;

- Huỳnh Minh Hai;

- Phạm Công Lai;

- Võ Thái Nguyên, hùng quận công.

Sau đây là sự tích các vị thành hoàng làng Nguyệt Biều:

1. Cao các đại Vương Linh Vương: Thần là người Bảo Sơn, quận Quảng nam, Trung Hoa, họ Cao, tên Hiển, tự là văn Trường, đổ tiến sĩ đời Khánh lịch, làm quan đến Thừa Tướng. Gặp lúc Đông di làm phản, Cao Vương phụng mạng đem quân phá tan, được gia phong đại thừa tướng, rồi xin về hưu, khi chết được tặng Đại Vương, khiến các chư hầu đều lập đền thờ. Cầu đảo linh ứng, các triều đều có công tặng.

Đến triều Trần Thái Tông (1258- 1272) có giặc Nguyên xâm lượt nước ta. Vua bèn xuống long thuyền đánh giặc, đến khúc sông nọ tự nhiên gió mưa nổi lên ầm ầm, sóng nước cuồn cuộn thuyền không đi được. Vua lấy làm lạ, lên bộ đóng quân tại bản ấp. Thấy trước đền có nhiều rắn, quân lính có nhiều người bị hại ( ấp tại xã Quan Chiếu, Đông Sơn, Thanh Hoa). Vua tức tốc hỏi nhân dân thờ thần nào? Nhân dân tâu rõ ràng. Vua biết thần anh linh bèn mật cầu thần hiển trô cứu cho, khoảnh khắc, quân lính bình an vô sự như cũ.

Vua lại mật cầu giúp tiến quân đánh Lục Đầu giang. Lâm trận bỗng nhiên mưa gió đùng đùng, sóng to cuồn cuộn, quân địch chết chìm dưới nước.

Vua khen rất linh ứng. Khi khải hoàn bèn ra lệnh đình thần sắc chỉ phong thần cho ấp ấy lo cúng tế phụng tự. Lại truyền các bến sông, cửa biển lập đền thờ, đời đời hương khói (2)

Về sau đế Vương các đời khi có việc quân đều đến đền cầu xin thường linh ứng.

Ngày hóa: 14 tháng 12

Ngày hiển ứng: 1 tháng giêng

Ngày tế: 12 tháng giêng

Ngày tế xuân thu: 20 tháng 3

2- Thần Đại Càng Quốc Gia Nam Hải

Khoảng niên hiệu Tường Hưng nhà Tống, quân Tống bị quân Nguyên đánh tan vỡ ở Nhai Sơn. Thái hậu họ Vương cùng ba công chúa chạy ra biển, chợt bão nỗi bị chết đuối, xác trôi dạt vào cửa Cờn (Càng), nhan sắc vẫn như lúc sống, người địa phương lập đền thờ. Năm Hưng Long thứ 12, vua Trần Anh Tông, thân đi đánh Chiêm thành, Thuyền qua cửa Cờn, d0e6m nhà vua mộng thấy thần nhân báo rằng: ‘thiếp cũng là phi nhà Tống , vì giặc bức bách , lên đênh sóng gió, trôi dạt đến đây, thượng đế sắc phong làm thần biển đã từ lâu, nay xin giúp công thánh thượng để đánh giặc. Nhà vua tỉnh giấc, sai làm lễ kính tế. ra đi mặt biển yên lặng, kéo quân đến thẳng thành Chà Bàn, thắng trận lớn, khi teo73 về, hạ lệnh gia phong là “ Quốc Gia Nam Hải Đại Càng Thánh Nương”, lại sửa đền thờ thêm rộng rãi. Năm Hồng Đức thứ 1, vua Lê Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, thuyền qua Cửa Cờn, vào đến mật đảo, khi ra đi, sóng êm gió lặng, kéo quân đến thẳng Chiêm Thành, được đại thắng. Khi kéo quân về, thuyền ngự đã qua cửa Biện, chợt có giông to nỗi lên, buồm thuyền theo chiều gió quay lại, thành ra trở lại dưới đền. Nhà vua bèn hạ lệnh thăng phẩm trật thần và dựng thêm đền miếu.(3)

3. Thần Thai Dương Phu Nhân

Tương truyền trước có người dân trong xã (xã Thai Dương, Thuận An, huyện Phú Giang, tỉnh Thừa Thiên) tên là Bố, đánh cá ở cửa biển. Một hôm mưa gió tối tăm, đến nửa đêm mưa tạnh trời quang. Bố thấy cạnh bờ biển có viên đá kỳ dị, bèn vổ xoa, rồi ngủ đi, chợt mộng thấy một người đàn bà nhan sắc đẹp đẽ nói; “ Ta đây là Thai Dương phu Nhân, mi là người phàm sao dám nhờn như thế? Phải đi ngay “ Bố giật mình tỉnh giấc, biết là đá thần, liền khấn ngay rằng “ Nếu đá có thiêng xin phù hộ cho tôi đánh cá được”. từ đấy mỗi ngày đánh cá được càng nhiều, bèn dựng đền tranh tại bến sông để thờ viên đá. Chợt có thuyền buôn Nhật Bản đi qua biển, trông thấy viên đá họ bảo nhau rằng: “ Đây là đá ngọc” rồi lấy búa lớn để bổ, thí tự nhiên người lăn đùng ra. Khiêng xuống thuyền thì không sống gió mà thuyền bị đắm, người trong thuyền không một người nào sống sót. Từ ấy lừng lẫy anh linh. Hồi đầu bản triều cầu gió thường được linh ứng, liền sửa làm đền miếu có có lệ quốc tế. Năm Gia Long thứ 10 sắc lập đền riêng, hằng năm tế vào ngày quí mùa xuân, mùa thu (4).

4. Thần Phi Vận Tướng quân. Trung Đẳng thần.

Thần họ Nguyễn, tên Phục, người xã Đoàn Tùng, huyện Trường Tân (sau đổi huyện Gia Phúc, nay 2 huyện Gia Lộc và Thanh Miện, tỉnh Hải Hưng), nhà ở bên sông Tùng Giang, đổ tiến sĩ Khoa Quý Dậu (1453) làm quan từ chuyển vận sứ kiêm thành khiển đạo Thanh hoa lên đến Đô chỉ huy sứ thiên sự vệ cẩm y.

Khi Lê Thánh Tông đi đánh Chăm – Pa, ông phụng mệnh làm phi vận tướng quân tán lí đội chuyển thân ( vận tải). Thuyền đến cửa Tư Dung ( Tư Hiên) chợt gặp gió bão, đại quân đả tiến trước vào đất dịch, mọi người sợ lương chậm thì bị tội, giục ông đi bừa nhưng ông nói: “ thà đem tấm thân bé nhỏ chịu hình phạt búa rìu, chớ không nở đem của nông sản hữu hạn để chìm xuống biển và đưa bọn người vô tội làm mồi cho cá!”, rồi quyết neo thuyền lại. quả nhiên tháy lương quân bị thiếu, vua sai bắt ông giam ngục rồi nghe lời dèm, đem giết đi. Sau vua tỉnh ngộ, ban chiếu tha tội và truy phong cho ông. Trong số tướng lĩnh, binh sĩ thoát khỏi nạn “ làm mồi cho cá” thưở ấy nhiều vị ở lại Thuận Hóa sinh cơ lập nghiệp, nhớ ơn đức ông, dựng miếu thờ ở cửa biển Tư Dung, dặn con cháu đời đời hương khói, các triều đại đều gia tặng. (5)

5. Thần Nhị Vị Công Tử Sô Vong Trạc Dương Trác Vĩ.

Tôi ngờ đây là hai vị hoàng tử triều Lý, dưới quyền của Lý Thường Kiệt, hy sinh tại phòng tuyến Như Nguyệt, khi hai vị đột kích qua sông đánh quân Tống.

Các hạ đẳng thần, đây là các vị tổ.

6. Tổ Tô Thái Liêu:

Có Người nói Tô thái liêu tức tuy Nhân Công, là thầy địa lý nổi tiếng đã tìm được ngôi đất phát phúc dựng nghiệp đế vương cho thân sinh lê lợi, lúc ấy gọi ông là “ Ngã Tống Sơn Nhân “ ( người ở Tông Sơn nhà Lê ta), vì thế triều trước tôn làm Thiên Vương và dựng miếu thờ (6).

7. Tổ Võ Thái Nguyên, Hưng Quận Công.

Kiến văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn viết: “ Hương hải Thiền Sư tên tục là Tổ Cầu, người Hưng Áng Đô, huyện Chân Phúc. Thiền sư lúc còn nhỏ bé thông minh sớm, 18 tuổi đổ Hương Tiến (1647), được tuyển bổ vào văn chức và bổ tri phủ Triệu phong. Năm Nhâm Thìn (1652), thiền sư 25 tuổi, hâm mộ tu hành đạo huyền diệu, bèn thụ giáo Viên Cảnh thiền sư ở Lục Hồ, được đặt tên hiệu là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp trị là Minh Châu Hương Hải thiền sư, sau lại học đạo ở Đại Thâm viên khoáng Thiền sư ở Quảng Trị.

Tiên tổ thiền sư cai quản đội đóng thuyền để đôn đốc việc đóng thuyền công, sinh hai người con: con cả là Khóa Lãng doanh Hùng Quận Công, cai quản hơn 300 lính thợ. Tức là Võ Thái Nguyên Hưng quận công vậy. (7)

Các vị tổ khác tôi chưa tìm ra được sự tích, tuy có sự trùng hợp thích thú là bốn vị tổ: Huỳnh Minh Hai, Hồ Đại Tướng, Võ Thái Nguyên, Phạm Công Lai trùng tên với bốn họ lớn của Làng Nguyệt Biều: Hoàng, Hồ, Võ, Phạm.

Theo tôi Hồ Đại Tướng là Ngài Hồ Hồng sống vào đời Nhà trần, ngài là thỉ tổ họ Hồ tại Tân Bình, Thuận Hóa.

Các mĩ tự của thần Cao Các và tiến sĩ Phi vận tướng quân.
Tín ngưỡng thành hoàng Việt nam, Nguyễn Duy Hinh.
Đại Nam Nhất Thống Chí Tập 3, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr 189.
Đại Nam Nhất Thống Chí Tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr 194.
Tập san Huế Xưa và Nay, số 2, tr 11.
Kiến Văn Tiểu Lục- Lê Quý Đôn – NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, tr 435.
Kiến Văn Tiểu Lục, sách đã dẫn, tr 402.

Tác giả bài viết: HỒ XUÂN THIÊN

Nguồn tin: hohovietnam.vn